Thứ Bảy, ngày 06 tháng 9 năm 2014

Những nhân vật cải cách trong lịch sử: 9 - Nguyễn Trường Tộ

Khác với Khúc Thừa Dụ, Lý Công Uẩn, Lê Thánh Tông... vừa là người đề xướng cải cách vừa là người chỉ đạo thực hiện nên đem lại nhiều kết quả, Nguyễn Trường Tộ chỉ với vai trò đề xướng cải cách không có quyền chỉ đạo thực hiện nên kết quả không nhiều. Nhưng tư duy đổi mới của ông lại có tác dụng lịch sử lớn lao.
Nó góp phần không nhỏ vào việc giải quyết khủng hoảng của hệ tư tưởng ở Việt Nam thế kỷ thứ XIX - đưa dần hệ tư tưởng tư sản dân chủ vào phủ định hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời.
Nguyễn Trường Tộ là một trí thức bình dân thông minh, ham học; một nhà yêu nước giàu lòng tự tôn, tự hào dân tộc; một trí thức không màng công danh, phú quý.
Ông là một nhà cải cách đi từ đổi mới tư duy đến đổi mới hành động. Tư duy của ông được biểu hiện cụ thể trong các điều trần mà tiêu biểu là: Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ; kế hoạch làm cho dân giàu, nước mạnh; kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước; về khả năng lấy lại ba tỉnh miền Tây; báo cáo về gặp viên lãnh sự Tây Ban Nha; tổ chức gấp việc khai mỏ và đào tạo chuyên viên; kế hoạch thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ; bàn về quan hệ với nước ngoài; canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao; nên mở cửa không nên đóng kín...
Nguyễn Trường Tộ đã đề cập yêu cầu cải cách một cách toàn diện; cả về kinh tế (công, nông, thương nghiệp, tài chính); văn hóa (giáo dục, ngôn ngữ), xã hội (cải thiện đời sống), chính trị (nội trị, ngoại giao, quốc phòng).
Tinh thần khoa học của cải cách được thể hiện nổi bật ở hai điểm:
1- Coi trọng phát triển lực lượng sản xuất xã hội, với những đề nghị cụ thể như: “mua đóng thuyền máy”, “khai thác tài nguyên”, “đào thiết cảng", “ký hợp đồng với nước ngoài”, “mở rộng quan hệ với Pháp và các nước", “cử người đi đào tạo về sửa chữa thuyền máy”, “đào tạo chuyên viên về mỏ", “gửi người sang Pháp học kỹ thuật", “gửi sinh viên sang Singapore học sinh ngữ”... Ông tin rằng làm như thế thì “không ngoài mấy trăm năm nữa các nước phương Đông cũng nhờ đó mà đánh bại phương Tây”.
2- Phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là coi trọng việc chuyển giao công nghệ.
Về kỹ thuật nông nghiệp, Nguyễn Trường Tộ không chỉ đề ra yêu cầu phát triển sức sản xuất mà còn coi trọng việc bảo vệ môi trường sinh thái:
“Săn thú không săn thú bầy, không bắt thú con; bắt cá không tát cạn ao đầm; không đốt rừng để săn thú; sói chưa tế thú không được săn; rái chưa tế cá không được thả lưới... Không giết vật có thai, không phá tổ hốt trứng...”.
Về công nghiệp thì coi trọng khả năng thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài: "Hiện nay các hội buôn của họ sang nước ta, có hội thì xin mở đường xe lửa suốt cả Nam Bắc, có hội muốn khai mỏ dọc theo các núi, có hội muốn xin thuyền đi dọc biển để tiễu phỉ, có hội muốn thông đường buôn bán...". Về mỏ thì: "Xin gấp rút mời một vài người Tây có thể tin cậy được, hậu đãi họ... theo ven núi ven biển mà tìm kiếm... rồi sau chọn lấy những mỏ tốt nhất mà để lấy dành lại về sau để tự khai thác...”.
Nhìn chung lại toàn bộ các điều trần của Nguyễn Trường Tộ đều chứa đựng một tinh thần yêu nước nồng nàn, một ý chí tự lập tự cường sâu sắc, một tấm lòng tự tôn, tự hào dân tộc cao cả, coi trọng phát huy trí thông minh, lòng ham học, tinh thần cầu tiến bộ của nhân dân ta với lòng mong muốn làm cho dân giàu nước mạnh, đất nước được độc lập tự do.
Nhưng những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ không được triều đình chấp nhận. Chỉ cho thi hành được một vài việc nhỏ như: Lập đoàn đi tìm mỏ than, đào xong kênh Sát ở Nghệ An, mua sắm được một số thiết bị, khí cụ khoa học và công nghệ, mời được mấy kỹ thuật viên.
Mặc dù vậy, tư duy cải cách của Nguyễn Trường Tộ đã có tác dụng đi đầu cho cả một trào lưu cải cách, đổi mới ở cuối thế kỷ thứ XIX với nhiều nhân vật cải cách có tên tuổi như Nguyễn Lộ Trạch, Đinh Văn Điền, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện... Tư duy cải cách của Nguyễn Trường Tộ là một điển hình về đổi mới tư duy thời cận đại Việt Nam. Sang đầu thế kỷ XX thì tư duy cải cách, đổi mới ở Việt Nam đã đơm hoa kết trái trong phong trào Duy tân cải cách do Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đề xướng. Hai nhà yêu nước kiệt xuất này đã gây nên một làn sóng Duy tân mở đầu cho trào lưu cách mạng dân tộc dân chủ tư sản Việt Nam ở đầu thế kỷ XX.
GS. VĂN TẠO (BÁO QUẢNG NAM); http://lichsu.tnus.edu.vn/chi-tiet/444-Nhung-nhan-vat-cai-cach-trong-lich-su-9---Nguyen-Truong-To


Những nhân vật cải cách trong lịch sử: 8 - Minh Mạng

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.
Đó là khủng hoảng của một nền kinh tế phong kiến lạc hậu, kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa tiền tệ đã khởi sắc từ cuối Trần được đẩy mạnh thời Lê sơ (tuy còn bị hạn chế bởi chính sách trọng nông ức thương). Quá trình tiếp xúc với thị trường thế giới trong thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn phân tranh rồi phát triển tiếp trong thời Tây Sơn ngắn ngủi... bị đình trệ.
Minh Mạng không nhằm giải quyết toàn bộ cuộc khủng hoảng ấy mà trước mắt chỉ nhằm giải quyết khủng hoảng thiết chế chính trị đang diễn ra sâu nặng, cấp thiết phải giải quyết mới củng cố được vương triều. Bắt đầu với việc củng cố hệ tư tưởng Khổng giáo - Tống Nho, củng cố hệ tư tưởng bảo thủ, đề cao tuyệt đối cương thường Nho giáo “quân thần, phu phụ, phụ tử”, lấy đó làm cơ sở để đào tạo nhân tài, bỏ ngoài tai mọi đề nghị cải cách đổi mới, mở cửa ra bên ngoài tiếp thu những tinh hoa mới của thời đại. Trên cơ sở đó thực hiện cải cách hành chính một cách quy mô.
I- Phân chia lại địa giới và các cấp hành chính
Đến Gia Long vẫn còn các cấp thành, doanh, trấn, thì nay Minh Mạng bỏ hết, thống nhất lãnh thổ thành 30 tỉnh. Theo đó, phân đặt cấp tỉnh (năm 1831, Minh Mạng chia các doanh, trấn từ Quảng Trị trở ra làm 18 tỉnh. Năm 1832 từ Thừa Thiên trở vào thành 12 tỉnh); phân đặt cấp trực thuộc tỉnh : phủ, huyện, châu ; phân đặt cấp xã dưới phủ, huyện, châu; bảo lưu cấp tổng đã có từ thế kỷ XVII làm cấp trung gian đô đốc xã.
Chính quyền 4 cấp được bắt đầu hoạch định từ đây. Đó là cái sáng tạo thành công trong cải cách hành chính của Minh Mạng mà đến nay chúng ta còn kế thừa.
II- Cải cách bộ máy hành chính
1- Bãi bỏ chức tham tụng (tức tể tướng dễ lộng quyền) thay bằng một nội các do 4 viên quan hàng tam, tứ phẩm cùng quản lý.
2- Đặt ra cơ mật viện có nhiệm vụ dự bàn những việc cơ mưu, trọng yếu giúp đỡ việc quân sự.
3- Kế thừa cơ chế đã có về lục bộ (lại, hộ, lễ, binh, hình, công) đứng đầu là thượng thư (còn gọi là tổng đốc) và lục tự đứng đầu là các tự khanh để giám sát kiềm chế lẫn nhau.
4- Cải cách các cơ quan chuyên trách về văn hóa như :
Quốc tử giám do đốc học và phó đốc học đứng đầu nhằm cải tiến việc giáo dục, tuyển sinh, khoa cử. Hàn lâm viện, đứng đầu là chưởng viên học sĩ và trực học sĩ, chuyên việc từ hàn như soạn thảo các chiếu, sách, chế, cáo, biểu, thư từ ngoại giao, sắc phong, văn bia...
5- Cải cách cơ quan thông vận, như thông chính sử ty chuyên vận chuyển giấy tờ, văn thư, sổ sách giữa triều đình và các địa phương; bưu chính ty chuyên trách chuyển vận công văn toàn quốc.
6- Cải cách cấp tỉnh - đặt tổng đốc đứng đầu tỉnh lớn, tuần phủ đứng đầu tỉnh nhỏ. Tổng đốc có thể kiêm hạt 1 hay 2 tỉnh nhỏ.
7- Cấp phủ, huyện, châu thì đặt tri phủ (tri phủ có thể kiêm hạt 1 hay 2 huyện, châu).
8- Cấp xã là cấp cơ sở có xã trưởng và phó xã trưởng (sau đổi là lý trưởng, phó lý) do dân bầu lên, nhà nước phê duyệt, có các kỳ mục giúp việc. Xã có dưới 50 người đặt một lý trưởng. Xã hơn 50 người có một phó lý. Hơn 150 người có 2 phó lý...
Bộ máy như vậy có thể bảo đảm được nguyên tắc tập trung quyền tối thượng vào tay nhà vua, phân quyền kiềm chế kiểm soát lẫn nhau giữa quan lại các ngành, các cấp vừa bảo đảm được tính tập trung vừa tăng cường được tính thống nhất của mỗi quốc gia với một lãnh thổ rộng lớn từ trước tới nay chưa từng có.
Nhưng cải cách có những mặt hạn chế cơ bản là :
1- Củng cố thêm hệ tư tưởng Tống Nho vốn đã trì trệ, bảo thủ, khước từ mọi đổi mới, hạn chế mọi việc canh tân.
2- Nặng về củng cố vương quyền, nhẹ về cải thiện dân sinh.
3- Quá khâm phục thiên triều, sao chép Mãn Thanh, thiếu nhìn xa thấy rộng ra thế giới để tiếp thu được những tiến bộ, văn minh nhân loại trong thời đại mới.
Hệ quả tiêu cực của cải cách là bộ máy phong kiến quan liêu độc đoán đó càng được củng cố chặt chẽ bao nhiêu thì sự đổi mới tư duy, canh tân đất nước càng khó khăn, chậm trễ bấy nhiêu.
Phải chăng đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến khi bọn phương Tây xâm lược đến đã không đề kháng nổi.
< GS. Văn Tạo >; http://lichsu.tnus.edu.vn/chi-tiet/445-Nhung-nhan-vat-cai-cach-trong-lich-su-8---Minh-Mang