Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

Nhật bản và cải cách Minh trị (1866) trong nhận thức của Nguyễn Trường Tộ


  NGUYỄN TIẾN DŨNG
Thứ tư, 18 Tháng 11 2009 08:05
font size  giảm kích thước chữ  tăng kích thước chữ
Trong chuyên khảo nổi tiếng Tại sao Nhật Bản “thành công”? Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản, học giả Michio Morishima có những nhận xét độc đáo về cải cách Minh Trị: “Ở một mức độ đáng kể, tôi hiểu Cách mạng Minh Trị khác với đa số các sử gia Nhật Bản, nhưng lại giống nhiều với các sử gia phương Tây, mặc dù trọng tâm của sự luận giải có khác nhau. Ở một chừng mực nào đó, các quan điểm được chấp nhận rộng rãi ở Nhật Bản đi theo học thuyết lịch sử Mác, nhưng theo tôi, lịch sử Nhật Bản cận đại quá độc đáo nên khó có thể giải thích được một cách thích hợp bằng học thuyết Mác-xit”[1].


Với cái nhìn so sánh, PGS. TS. Nguyễn Văn Kim cũng chia sẻ thêm: “đặt trong bối cảnh lịch sử châu Á thời bấy giờ, cải cách Minh Trị, với những thành công của nó, có thể coi là một hiện tượng dị biệt, là mẫu hình tiêu biểu của phong trào cải cách châu Á những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”[2]. Điều đó lý giải vì sao khi luận giải về cải cách Minh Trị của Nhật Bản và sự thành công của cuộc cải cách đó bên cạnh những quan điểm, vấn đề có ý kiến tương đối thống nhất đã có không ít những nhận định, đánh giá tương đối khác nhau của các thế hệ, các lớp người… về cuộc cải cách này.

Là một trí thức yêu nước, luôn trăn trở với sự nghiệp canh tân, tự cường đất nước và là người sống cùng thời điểm cuộc cải cách này diễn ra, Nguyễn Trường Tộ có những nhận thức tương đối sâu sắc, xác thực về cải cách Minh Trị trong sự liên tưởng, đối sánh với Việt Nam cũng như các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những nhận thức và tư tưởng canh tân đó được được thể hiện rõ nét qua các di thảo của ông.

1. Cải cách Minh Trị trong bối cảnh khu vực và quốc tế nửa cuối thế kỷ XIX
          Như chúng ta đã biết, sau khi các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, Anh và nhiều nước châu Âu khác, chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái kính tế xã hội mới đã xuất hiện và bắt đầu có những tác động to lớn đến đời sống chính trị và kinh tế thế giới. Nhờ có nền sản xuất công nghiệp và việc ứng dụng thành tựu kỹ thuật tiên tiến mà năng suất lao động trong trong các nước tư bản đã tăng cao. Sau các cuộc phát kiến địa lý lớn diễn ra vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, một số cường quốc châu Âu mà tiêu biểu là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan, Pháp… đã ra sức tìm đường đến phương Đông và nhiều vùng đất khác trên thế giới tìm kiếm thị trường, tiến hành hoạt động buôn bán và vơ vét tài nguyên thiên nhiên. Lợi nhuận thu được từ các quốc gia phương Đông trong các thế kỷ XVI-XVII đã góp phần quan trọng tạo ra nguồn tích lũy vốn nguyên thủy cho quá trình công nghiệp hóa và phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản.
          Trong quá trình mở rộng ảnh hưởng và bành trướng đó, đến thế kỷ XIX, các quốc gia tư bản sau một thời kỳ phát triển trong điều kiện tự do cạnh tranh đã chuyển dần sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Bằng nhiều cách và mức độ khác nhau, các dân tộc châu Á và nhiều quốc gia trên thế giới đã từng bước trở thành thuộc địa và phụ thuộc nặng nề về kinh tế, chính trị vào các nước tư bản phương Tây. Vào cuối thế kỷ XIX, trong quá trình bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dân, các nước tư bản Anh, Pháp, Đức, Nga, Mỹ đã dần dần nổi lên như những cường quốc trên thế giới. Theo đó, năm 1881, Pháp đã thiết lập chế độ bảo hộ ở Tunis, năm 1882, Anh chiếm Ai Cập, năm 1883, Đức bắt đầu tham gia giành đất thuộc địa ở Tây - Nam Phi. Trong các năm 1884 - 1885, Pháp và Anh tiến mạnh đến khu vực Đông Dương và Miến Điện (Myanmar) năm 1889 các nước Đức, Anh và Mỹ chiếm vương quốc Samoan và phân chia nước này thành ba vùng cộng trị[3]. Như vậy, đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XIX, phần lớn khu vực Trung Đông, châu Phi, châu Á Thái Bình Dương đều lần lượt rơi vào tay các cường quốc thực dân. Ở Đông Bắc Á, cho đến giữa thế kỷ XIX, các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên cũng bắt đầu bị cơn lốc của chủ nghĩa thực dân tràn tới.
          Là một quốc gia có vị trí chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á, lại từng là một trung tâm kinh tế lớn của châu Á trong các thế kỷ XVI-XVIII, đến thế kỷ XIX, Nhật Bản trở thành đối tượng chinh phục của nhiều nước tư bản Âu - Mỹ. Từ đầu thế kỷ XIX, nhiều tàu buôn và chiến hạm của Nga, Hà Lan, Anh và Mỹ… đã đến Nhật Bản, yêu cầu chính quyền Edo từ bỏ chính sách tỏa quốc (sakoku) để mở cửa thông thương với thế giới bên ngoài[4].
          Nguyễn Trường Tộ (1830[5]-1871) vốn xuất thân trong một gia đình Công giáo, nhưng là người học thông Tứ thư, Ngũ kinh của đạo Nho, lại có điều kiện trải nghiệm thực tế, học tập và tiếp xúc với nền văn minh của nhiều nước phương Đông và phương Tây như Hương Cảng, Singapore, Romas, Thụy Sĩ và Pháp. Chính từ vốn học vấn uyên thâm kết hợp với những trải nghiệm quý báu của bản thân, đã tạo cho ông nhãn quan sắc bén cũng như tầm nhìn sâu rộng với nhiều nhận thức vượt thời đại. Trong bối cảnh và khuynh hướng vận động chung của thế giới thời bấy giờ, Nguyễn Trường Tộ có những nhận định sâu sắc và xác thực: “Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị chẹn họng bám lưng. Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời, mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân đến, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ”[6].
          Ông còn phân tích thêm: “Trước đây trong bài Lục Lợi từ tôi đã bẩm rằng cái kế mưu sinh của phương Tây, quá nửa do đoạt lấy từ nước ngoài… Phương pháp họ dùng để đoạt lấy, chủ yếu là ở xen lộn và thông thương buôn bán. Nếu sơ đầu mà không đạt được yêu cầu, họ sẽ không chiếm đất đai để làm chỗ bảo vệ việc thông thương buôn bán của họ. Nếu được ngay không có gì trở ngại, có thể cư ngụ yên ổn, họ không cần cưỡng bức chiếm cắt (Không phải bản tâm họ không muốn chiếm cắt, nhưng mới đầu, thế buộc phải làm như vậy). Trước tiên họ chỉ tiến hành thiết lập các phố buôn để tiện cư trú buôn bán mà thôi. Như gần đây bọn chúng đã làm ở Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm La vậy. Ý họ cho rằng nếu tranh chấp sớm kết oán càng sâu”[7].
          Như vậy, trước sự xâm nhập và bành trướng ngày càng sâu rộng, với cường độ ngày càng gia tăng của các quốc gia tư bản phương Tây, điều tất yếu là các quốc gia phương Đông phải đứng lên bảo vệ chủ quyền dân tộc và giữ gìn những nguồn tài nguyên của đất nước mình. Mỗi quốc gia phương Đông có những tiềm lực và điều kiện khác nhau, cho nên giữa họ cũng có những khuynh hướng tự vệ khác nhau. Dù đấu tranh theo hình thức nào thì cuối cùng các quốc gia phương Đông hoặc phải đứng lên đấu tranh bằng vũ trang hoặc lựa chọn con đường cải cách, duy tân tiến tới tự cường đất nước. Tuy cách thức có khác nhau nhưng cả hai con đường đó đều có mục tiêu chung là bảo vệ nền độc lập, chủ quyền dân tộc.
Là quốc gia tiêu biểu ở châu Á tiến hành thành công cải cách đất nước, giới lãnh đạo phong trào cải cách ở Nhật Bản đã có những nhận thức đúng, kịp thời và vận dụng có hiệu quả thuyết thế và thời trong triết luận phương Đông vào công cuộc “phú quốc cường binh”, hơn thế họ còn vượt qua được “định mệnh” của lịch sử, bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, sánh vai cùng đội ngũ liệt cường thế giới. Đúng như trí sĩ Nguyễn Trường Tộ từng nhận xét về bối cảnh thế giới và hiện trạng của Nhật Bản cũng như một số quốc gia khác thời bấy giờ: “Theo phép liên hoành và cân bằng thế lực trên thế giới mà cái gương thành công thất bại gần ta nhất như nguyên do Ấn Độ mất toàn lãnh thổ, Miến Điện bỏ một nửa đất đai, Xiêm La, Nhật Bản, Trung Quốc được lợi lớn, có thể thấy được đại khái là do không biết thời thế. Không biết thời thế thì tri thức câu chấp, tâm tính hẹp hòi”[8].
          2. Nhận thức của Nguyễn Trường Tộ về Nhật Bản
          Hiện nay, nghiên cứu về cải cách Minh Trị của Nhật Bản nói riêng[9] cũng như những nghiên cứu về con người Nguyễn Trường Tộ và tư tưởng canh tân đất nước của ông[10] đã thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, nhưng nghiên cứu về đề tài Nhật Bản và cải cách Minh Trị của Nhật Bản trong nhận thức của Nguyễn Trường Tộ chưa thật sự được chú ý. Từ thực tế lịch sử cho thấy, với vốn kiến thức thực tế phong phú và tầm hiểu biết uyên thâm của mình, Nguyễn Trường Tộ có những nhìn nhận, kiến giải khá sâu sắc và có tính hệ thống về Nhật Bản trước, trong và ngay sau cải cách Minh Trị[11].
          Là người có điều kiện đi qua và tiếp xúc với nhiều nước châu Á cũng như châu Âu, điều hiển nhiên là Nguyễn Trường Tộ đã tự trang bị cho mình một tầm kiến văn phong phú, sâu sắc về thế giới. Trên cơ sở đó, ông đã đưa ra quan điểm về những khuynh hướng vận động của thời đại. Ông đã nhận định về vị thế và tình thế của Nhật Bản trong “thân phận” của nó với tư cách là quốc gia láng giềng của nước Nga: “Lại như các lớn thuộc phía Bắc nước Nhật và Mông Cổ Ngoại Minh giáp với Triều Tiên đều đã nhập hết vào bản đồ nước Nga”[12]. Như vậy, trong xu thế bành trướng, xâm lược mạnh mẽ của các đế quốc châu Âu nhìn chung các dân tộc “nhỏ yếu” phương Đông đều phải gánh chịu chung một số phận. Ông cho rằng: “Ấn Độ đã thuộc Anh không phải bàn nữa. Miến Điện và Xiêm La là thân cá chậu. Còn lại nước ta và Nhật Bản coi như đô thị lớn của vùng Biển Đông, Triều Tiên bên cạnh như một cái phố nhỏ chỉ đủ cho bọn chúng điểm tâm buổi sáng, chẳng quan trọng gì. Nhật Bản tuy cứng mạnh, hung hãn, nhưng các tiểu hầu phân chiếm từng mảnh, ý chí sức lực không đều nhau, trở ngại cho việc tiếp ứng. Hơn nữa nước này bốn mặt bể bao bọc, chẳng có hàng xóm láng giềng với ai, rốt cuộc cúng khó tranh hơn với các địch thủ lớn, chuyên vẫy vùng trên biển… Hợp Chúng Quốc xưa nay đối với thế giới có tiếng là “Ông già hòa bình” nhưng nay họ phải bỏ đường lối ấy. Họ lại thấy Nga và Pháp sắp rửa áo giáp ở Thái Bình Dương thì lý nào họ lại ngồi yên để xem miếng mồi ấy lọt vào tay ai. Chắc chắn họ cũng sẽ hươi gươm vác súng vào cái chợ lớn Trung Quốc mà đánh chén với các nước phương Tây. Còn nước ta và Nhật Bản như là hai con đường lớn của hai đầu chợ ấy, chắc chắn sẽ là nơi bọn chúng buông gánh nghỉ vai. Điều đó sớm muộn sẽ xảy ra không sao tránh khỏi”[13]. Như vậy, trong nhận thức của Nguyễn Trường Tộ, thế giới phương Đông rộng lớn hiện ra và có đầy sức hấp dẫn với thế giới tư bản phương Tây. Dù sớm hay muộn, các quốc gia phướng Đông đều trở thành miếng mồi béo bở để các thế lực tư bản phương Tây xâu xé, xâm chiếm. Nhật Bản là quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng, điều tất yếu là dân tộc này cũng khó nằm ngoài âm mưu thôn tính của các nước thực dân. Trước trào lưu xâm lược của thế giới tư bản phương Tây, theo Nguyễn Trường Tộ, Nhật Bản đã lựa chọn cho mình con đường tự vệ đúng đắn và cách ứng xử khôn khéo đó là tích cực học tập phương Tây, tiến tới tự cường dân tộc.
          Trong bối cảnh quốc tế giữa thế kỷ XIX, để lựa chọn cho mình con đường đấu tranh phù hợp, điều tiên quyết là mỗi quôc gia ở châu Á phải tự nhận thức vị trí của mình trên bàn cờ chính trị khu vực cũng như điều kiện thực tế, tiềm lực vốn có của mình. Quan điểm đó gắn với năng lực tự thân, tố chất và khả năng thích ứng của chính mỗi quốc gia. Trong quá trình vận động cải cách, người Nhật đã từng bước nhận thức đúng con đường cải cách và không ngừng phát triển, hoàn thiện con đường cải cách đó theo cách thức của dân tộc mình. Theo ông, sở dĩ người Nhật có thể chuẩn bị để tiến tới một cuộc thay đổi lớn là vì những phẩm chất tự nhiên mà họ có được. Theo đó: “Trên địa cầu, có giống tốt phước, có giống vô phước. Đó là lẽ tiền định của tạo vật, nếu không xét kỹ nguồn gốc trời, đất, người, vật, không thể nào hiểu thấu và tin tưởng lẽ ấy được. Tuy nhiên, cứ xem các nước xưa nay cũng có thể hiểu biết rõ chuyện ấy có thật. Giống tốt phước ở Đông Châu (Đông bán cầu của quả đất là Đông Châu, Tây bán cầu là Tây Châu) như người phương Tây, người Ấn Độ, người Mông Cổ, người Trung Quốc, người Nhật Bản và người nước ta. Những giống dân này mỗi ngày một thịnh, mỗi thế kỷ tăng lên hai lần rưỡi”[14].
          Không những vậy, trước bất kỳ một vấn đề hệ trọng mang tính bước ngoặt của mỗi quốc gia, dân tộc, điều rất quan trọng là cần có sự đồng lòng, hòa thuận từ trên xuống dưới và của quân - thần cũng như vua - tôi. Đây không chỉ là cơ sở để mỗi quốc gia vượt qua khó khăn, thử thách mà còn tạo dựng nên sự trường tồn, bền vững của mỗi dân tộc. Thực tế thì, theo Nguyễn Trường Tộ: “Mọi quyền lực hành vi trong một nước phải do vua nắm, và cùng với quốc dân chia sẻ nỗi vui buồn. Ngoài quy luật này ra đều là tội cả. Tôi xem khắp các nước trong thiên hạ, hễ nước nào có một họ được bề tôi đời đời giúp rập thì tuy có đôi khi suy vi nhưng trong nước cũng không đến nỗi có loạn lớn. Như Nhật Bản đã mấy nghìn năm, Thổ Nhĩ Kỳ đã nghìn năm, các nước phương Tây đều như thế cả, ở Nam Tây Châu cũng vậy. Sở dĩ dân ở đấy phần nhiều chỉ có loạn nhỏ mà không có loạn lớn là vì danh nghĩa đã xác lập ngôi vị ổn định, nghe thấy đã quen ít xảy ra việc đoán thoạn làm loạn”[15].
          Và sự thống nhất ý chí của dân tộc Nhật Bản thể hiện rõ nét trong việc kiên tâm học tập và ứng dụng khoa học kỹ thuật của chính các quốc gia tư bản phương Tây. Điều này có nền tảng từ quan niệm thực học truyền thống của người Nhật, chúng ta thấy rằng cùng quan niệm xây dựng một hệ thống giáo dục đó là: “Trừ Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly và nước ta ra không có nước nào lấy văn chương để chọn nhân tài. Đó cũng vì thơ phú không đuổi được giặc, nghìn lời không được một kế sách, cho nên thay đổi đi mà lấy những điều tạo hóa hành sự làm cái học thực dụng, vì tạo vật là bậc thầy vĩ đại của muôn dân”[16]. Tuy nhiên, khi so sánh với Việt Nam, về bản chất của hệ thống giáo dục của Nhật Bản, Nguyễn Trường Tộ cũng đã nhận thấy có nhiều điểm khác biệt: “Ngày nay chúng ta, lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ phú, lớn lên ra làm thì lại luật, lịch, binh, hình. Lúc nhỏ nào học Sơn Đông, Sơn Tây mắt chưa từng thấy, lớn lên ra làm thì đến Nam Kỳ, Bắc Kỳ. Lúc nhỏ học nào thiên văn , địa lý, chính sự, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi khác hết rồi), lớn lên ra làm thì dùng đến địa lý, thiên văn, chính sự, phong tục của nước Nam, hoàn toàn khác hẳn. Lúc nhỏ học những lễ nhạc, cách ăn uống, cư xử chiến đấu, doanh trại từ xa xưa của Tàu, lớn lên ra làm thì phải dùng lễ nhạc, cách chiến đấu, phép ăn ở theo quan dân nước ta ngày nay. Còn biết bao nhiêu những việc tương tự như thế, mòn bút khô môi cũng không kể hết. Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng nước nào có nền học thuật như vậy. Quả thật lạ đời! Tuy Nhật Bản, Cao Ly cũng đọc sách Tàu nhưng chỉ để làm vui (Phải đọc sách của nước họ mới biết sự thật. Nếu xem sách Nho thì bao giờ cũng thấy nói khắp thiên hạ đều học theo phép Nho của mình cả. Đó chỉ là nói để khoe tốt, không đủ tin). Còn ra thì làm theo sách của nước họ, công việc của nước họ, chưa bao giờ thấy họ học và dùng những gì mà mắt không trông thấy, chân không đặt đến như lối học của nước ta”[17]. Và trước nguy cơ bị thực dân phương Tây nhòm ngó, Nhật Bản đã lựa chọn học tập kỹ nghệ của chính các nước phương Tây, đê tự cường đất nước: “Nhật Bản và Trung Quốc dần dần đã rõ cơ hội đó, nên Nhật Bản đã cho nhiều người sang các nước phương Tây du học, đồng thời để dò xét tình hình. Hiện có một hoàng tử và 35 người cùng đi với một linh mục mới đến Ba Lê (tức Paris - TG) và đã thiết lập ở đó một Đại học xã để phái người sang học”[18].
          Không chỉ mời các chuyên gia nước ngoài về Nhật giảng dạy và tạo dựng cơ sở vật chất, việc cử chuyên gia sang nước ngoài học tập là hoạt động diễn ra liên tục và thường xuyên. Nhật Bản đã học tập kỹ nghệ phương Tây phong phú và trên nhiều phương diện, các di thảo của Nguyễn Trường Tộ cho biết: “Hiện nay Nhật Bản, Miến Điện cũng đã phái người đến kinh đô nước Pháp học kỹ nghệ. Đến như nước Nga ở phương Tây mà cũng cho người đến nước Anh, nước Pháp học tập. Tuy phải dụng công lâu dài, dụng công rất lớn, nhưng cũng thu hoạch được nhiều. Vì rằng muốn thành đại sự phải mất hàng trăm năm chứ đâu phải một ngày mà được. Cho nên người quân tử lo toan mọi việc chẳng những ở đời mình mà cho con cháu nữa”[19]. Từ đó tác giả liên hệ: “Tôi thiết nghĩ rằng tuy là người ngoài hội, nhưng đã làm việc cho người nước ngoài nhiều như hiện nay người nước Nhật Bản cũng mời họ (tức người Pháp - TG) đến mở xưởng đóng thuyền, theo những phương pháp mới. Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện cũng vậy”[20]; “Mỗi ngày xưởng (xưởng chế tạo súng hỏa mai ở ngoại ô Ba Lê, tức Paris ngày nay, - TG) có thể sản xuất mười vạn cây súng. Công nhân trên ba trăm (Người Nhật hiện đến mua của xưởng một trăm vạn cây súng, mua các giàn máy và thuê hai công nhân về Nhật Bản lập xưởng)”[21]; “Ở đấy có một vị công tử đứng đầu hội (hội ở đây chính là xưởng đào mỏ đúc sắt – TG), y là con một ông quan lớn nhất trong Viện Thứ Dân (ông này là Viện trưởng Viện Thứ Dân, như Tể tướng). Chúng tôi đã ở nhà công tử ấy một tuần và có nói chuyện nhiều với công tử rằng nước ta vốn muốn cộng tác với nước Pháp để được thịnh lợi chung, y rất thích. Tôi cũng nói với y rằng khi về nước sẽ đem hết những gì cơ xưởng của y có bẩm lên Triều đình để biết sau này có mua sắm gì sẽ nhờ y liệu biện cho, như Nhật Bản, Xiêm La vậy”[22]; “Vả lại, nếu muốn tìm các thứ máy móc theo kiểu mới thì khắp nước Pháp, không đâu hơn ở đây. Nếu các quan ta đi đến đây đính ước sự mua bán về sau như Nhật, có gì mà không được?”[23].
          Như vậy, những hoạt động tích cực trên đây của Nhật Bản tạo tiền đề quan trọng để Nhật Bản tiến hành thành công cải cách Minh Trị, đây không chỉ là kết quả của sự thích ứng với bối cảnh lịch sử mới của quốc gia này, mà còn là thành quả kế thừa từ thời kỳ Tokugawa (1600-1868). Thực tế thì, “trải qua 267 năm tồn tại và phát triển, chế độ phong kiến Tokugawa mặc dù không tránh khỏi những hạn chế lịch sử, nhưng từ trong lòng xã hội phong kiến, nhiều nhân tố kinh tế - xã hội mới đã nảy sinh. Các nhân tố kinh tế - xã hội đó đã tạo nên tiền đề và động lực hết sức quan trọng để Nhật Bản có thể tiến hành cuộc cải cách xã hội rộng lớn đồng thời bảo đảm những cơ sở cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của một nhà nước tư sản đầu tiên ở châu Á”[24].
          Kết quả là, Nhật Bản đã bước đầu tiến hành thành công cải cách Minh Trị, điều này không chỉ giúp Nhật Bản thoát khỏi vanh nuốt đô hộ của các nước phướng Tây, mà quốc gia này còn thành công trong việc thực hiện mục tiêu cơ bản của mình là xây dựng đất nước trở thành “phú quốc cường binh”. Theo nhìn nhận của Nguyễn Trường Tộ: “Lại xem Nhật Bản xưa vốn là lũ người lùn, từ trung diệp nhà Minh mới bắt đầu giao hảo với Hà Lan, làm bạn với Bồ Đào Nha, kế đến mời Hợp Chúng Quốc giúp vào việc nước, mở mắt nhìn rộng rãi thiên hạ mới có chí hướng lớn như vậy. Từ đó họ đóng tàu bè, luyện tập võ bị, ưu tiên phát triển thương nghiệp, công nghiệp, đất nước mỗi ngày một mạnh, được khen với mỹ danh là Tiểu Tây và Trung Quốc khó bắt được Nhật Bản phải thần phục. Tuy gần đây Anh, Pháp thường hay quấy nhiễu nhưng nhờ có nền nội trị ngoại giao vững vàng mà họ không chịu hạ mình. Như trước đây ba năm Anh, Pháp đem binh thuyền đến toan đàn áp, nhưng nhờ có Hợp Chúng Quốc, Hà Lan phân giải mà việc đã không xảy ra. Đó không phải là công dụng của sự giúp đỡ của các nước hay sao? Còn như ngày nay nước ấy có những kế hoạch giao thiệp rộng rãi, những mưu cơ tân tiến thì đâu đâu người ta cũng đã nghe thấy rõ rang, gương ấy không xa, không cần phải nêu ra nữa”[25].
          Sự thành công ban đầu của công cuộc cải cách của Nhật Bản được trí sĩ Nguyễn Trường Tộ luận giải và nhận thức trong một logic nhất quán: “Tôi xem khắp thiên hạ từ xưa đến nay, các nước sở dĩ bảo tồn được dài lâu, không nước nào không do hai điều kiện là giàu và mạnh. Mà sở dĩ được giàu mạnh thì không thể không bắt đầu bằng việc mở rộng đất đai làm đông dân chúng, thông thương qua lại và giao du với các nước. Sau đó lấy nhân nghĩa công bằng mà qua lại với các nước làm cho mình và người cả hai đều được lợi, thì mới đạt được sở nguyện. Đó là đường lối thông thường mà tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều tiến hành như thế, tập tành ham chuộng đường lối ấy, tìm cách thực hành đường lối ấy, mấy trăm năm càng ra làm càng có lợi mà không ai nghỉ tay, cũng vì bỏ đường lối này không còn phương sách nào khác”[26].
          3. Một số nhận xét
          Mặc dù là người đi khá nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả một số quốc gia ở phương Đông cũng như phương Tây, nhưng Nguyễn Trường Tộ vẫn chưa một lần có điều kiện đặt chân đến Nhật Bản. Tuy nhiên, trong tổng số 58 di thảo của mình, địa danh Nhật Bản được Nguyễn Trường Tộ đề cập đến 23 lần, với những nhìn nhận đánh giá khá sâu sắc và tương đối xác thực so với tư liệu và nguồn tri thức chúng ta có thể tiếp nhận được ngày nay. Điều này vừa cho thấy vốn kiến thức uyên thâm của cá nhân ông nhưng đồng thời cũng thể hiện khả năng nắm bắt và truyền tải thông tin tương đối chính xác thời bấy giờ. Nhật Bản hiện lên rõ nét trong nhận thức của Nguyễn Trường Tộ trước, trong, sau cải cách Minh Trị.
          Đêm trước của cải cách Minh Trị năm 1868, với vị trí địa chiến lược quan trọng, cũng như nhiều quốc gia khác ở phương Đông, Nhật Bản phải đối diện với âm mưu xâm lược bành trướng của thực dân phương Tây. Bằng ngòi bút sắc sảo và khả năng phân tích sắc bén của mình, Nguyễn Trường Tộ nhìn nhận người Nhật, dân tộc Nhật với tiềm lực và khả năng của bản thân đã quyết tâm hướng dân tộc dến sự lựa chọn cách thức học tập phương Tây với một nội dung phong phú, đa dạng, nhằm mau chóng đưa Nhật Bản thành một quốc gia cường thịnh. Đó là một sự lựa chọn hết sức khôn ngoan và đúng đắn. Mặc dù, trong toàn bộ di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta chưa thấy ông viết nhiều về sự vận động bên trong của phong trào cải cách, phân tích kỹ những đặc tính của một cuộc vận động cải cách đang diễn ra… song thông qua những trang viết ông luôn nhấn mạnh đến tinh thần, ý chí, quyết tâm, năng lực học tập, tính cầu thị của người Nhật. Theo ông đó là tấm gương hữu ích, thực tế, cần phải học tập.
          Từ một quốc gia có nguy cơ bị biến thành dân tộc nô lệ như nhiều nước khác ở Đông Á, sự thành công của cải cách Minh Trị khiến Nhật Bản có thể phát triển nền công nghiệp, thương nghiệp, từng bước trở thành một đất nước giàu mạnh. Cùng với chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, biết lựa chọn những bước đi thích hợp, (vốn là đặc tính của xã hội thương nghiệp, lối tư duy giàu lý trí của xã hội võ sĩ…), Nhật Bản đã sớm duy trì được sự cân bằng quyền lực với các thế lực thực dân phương Tây để bảo vệ chủ quyền dân tộc cùng lợi ích quốc gia. Nhận thức về Nhật Bản, về một đất nước có cùng bối cảnh, cùng tình thế, nhận thức của Nguyễn Trường Tộ luôn có những liên hệ và đặt trong tương quan so sánh với tình thế của Việt Nam. Tấm gương Nhật Bản được ông đưa vào trong các trang điều trần với nội dung đa diện, đa chiều và tâm thức tích cực nhưng qua đó cũng thể hiện không ít những cảm quan, thiên kiến của mộtnhà cải cách, một trí thức yếu nướcsống giữa cuộc chuyển giao lớn của dân tộc và thời đại.






[1]Michio Morishima, Tại sao Nhật Bản “thành công”? Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1991, tr.75.
[2]Nguyễn Văn Kim, Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản (1868-1912); trong: Vũ Dương Ninh (Cb), Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2007, tr.50 -51.
[3]Marius B. Jasen (Ed), The Cambridge History of Japan, Vol. V, Cambridge University, 1973, p.747.
[4]Xin xem thêm: Nguyễn Văn Kim, Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản (1868-1912), trong: Vũ Dương Ninh (Cb), Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Sđd, tr. 50-161.
[5]Từ đầu thế kỷ XX, một số trí thức cho rằng Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, chúng tôi chọn năm 1830 theo như nguồn tài liệu cung cấp của ông Nguyễn Trường Cửu (trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ) - Con trai của Nguyễn Trường Tộ.
[6]Nguyễn Trường Tộ, Thiên hạ đại thế luận, Di thảo số 1, tháng 3 – 4 năm 1863, in trong Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 107. Toàn bộ di thảo của Nguyễn Trường Tộ dùng trong bài viết này, chúng tôi sử dụng trong công trình tập hợp và biên dịch của nhà nghiên cứu Trương Bá Cần.
[7]Nguyễn Trường Tộ, Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lại sáu tỉnh, Di thảo số 41, ngày 30 tháng 3 năm 1871, Sđd, tr.333.
[8]Nguyễn Trường Tộ, Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lại sáu tỉnh, Di thảo số 41, ngày 30 tháng 3 năm 1871, Sđd, tr.333.
[9]Về cải cách Minh Trị của Nhật Bản, xin xem thêm: R. H. P Mason & J. G. Caiger, Lịch sử Nhật Bản, Nguyễn Văn Sĩ dịch, Nxb. Lao Động, H., 2003, tr.294-354; Fukuzawa Yukichi, Nhật Bản cách tân giáo dục thời Minh Trị, Nxb Chính trị Quốc gia, H., 1995; Michio Morishima, Tại sao Nhật Bản “thành công”? công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, H. 1991, tr. 75 - 117; Nguyễn Văn Kim, Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản (1868-1912), Sđd, 50-161; Nguyễn Văn Kim, Vai trò của các tozama daimyo trong tiến trình cải cách ở Nhật Bản thế kỷ XIX (Những vấn đề khoa học đang đặt ra), in trong Nhật Bản với châu Á những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2003, tr.449- 478; Đặng Xuân Kháng, Một số tư tưởng chủ đạo của cải cách giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị duy tân, trong: Đông Á - Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb. Thế giới, H., 2004, tr.179-188…
[10]Về Nguyễn Trường Tộ và những tư tưởng canh tân đất nước của ông, xin xem thêm: Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo, Sđd; Hoàng Thanh Đạm, Nguyễn Trường Tộ: Thời thế và tư duy cách tân, Nxb. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Đinh Xuân Lâm – Nguyễn Văn Hồng, Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, H., 1998; Đỗ Bang - Trần Bạch Đằng - Đinh Xuân Lâm - Hoàng Văn Lân - Lưu Anh Rô - Nguyễn Quang Trung Tiến - Nguyễn Trọng Văn, Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, 1999…
[11]Khi khảo sát tuyển tập công trình của Trương Bá Cần, chúng tôi nhận thấy trong toàn bộ 58 di thảo của Nguyễn Trường Tộ, danh từ Nhật Bản xuất hiện tổng số là 23 lần, tại 13 di thảo gồm di thảo số 1, 2, 4, 7, 13, 18, 26, 27, 35, 38, 41, 50, 55.
[12]Nguyễn Trường Tộ, Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều), Di thảo số 27, ngày 15 tháng 11 năm 1867, Sđd, tr. 227.
[13]Nguyễn Trường Tộ, Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều), Di thảo số 27, ngày 15-11-1867, Sđd, tr. 229.
[14]Nguyễn Trường Tộ, Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều), Di thảo số 27, ngày 15-11-1867, Sđd, tr.268.
[15]Nguyễn Trường Tộ, Ngôi vua là quí, chức quan là trọng. Tháng 5-1866, di thảo số 13, Sđd, tr.15
[16]Nguyễn Trường Tộ, Về việc học thực dụng, tr.192. Ngày 1-9-1866, di thảo số 18, Sđd, tr.192.
[17]Nguyễn Trường Tộ, Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều), Di thảo số 27, ngày 15-11-1867, Sđd, tr.249.
[18]Nguyễn Trường Tộ, Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều), Di thảo số 27, ngày 15-11-1867, Sđd, tr.229.
[19]Nguyễn Trường Tộ, Về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy, tr.157-158, di thảo số 7, tháng 2-1865, Sđd, tr.157-158.
[20]Nguyễn Trường Tộ, Tờ trình về việc ký hợp đồng với hội nước ngoài, tr. 221, di thảo số 26, ngày 12 tháng 5 năm 1867, Sđd, tr. 221.
[21]Nguyễn Trường Tộ, Tám việc cần làm gấp (Tế cấp bát điều), Di thảo số 27, ngày 15-11-1867, Sđd, tr.229.
[22]Nguyễn Trường Tộ, Nói rõ thêm về văn bản 16 – 2 Tự Đức 21, di thảo số 35,ngày 15-3-1868, Sđd, tr.301.
[23]Nguyễn Trường Tộ, Nói rõ thêm về văn bản 16 – 2 Tự Đức 21, di thảo số 35,ngày 15-3-1868, Sđd, tr.302.
[24]Nguyễn Văn Kim, Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: Nguyên nhân và hệ quả, Nxb. Thế giới, H., 2000, tr.228.
[25]Nguyễn Trường Tộ, Nên mở cửa chứ không nên khép kín, di thảo số 55,tháng 10-1871, Sđd, tr.408-409.

[26]Nguyễn Trường Tộ, Nên mở cửa chứ không nên khép kín, di thảo số 55,tháng 10-1871, Sđd, tr.408.
https://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/nhat-ban-va-cai-cach-minh-tri-1866-trong-nhan-thuc-cua-nguyen-truong-to

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2017

Cải cách ở Xiêm và Việt Nam cuối TK 19, đầu TK 20: Những nguyên nhân thành bại

Posted on 14/09/2015 by The Observer
Print Friendly
King_Chulalongkorn_and_Family-e1429276363524

Tác giả: Phạm Quang Minh

I. Đặt vấn đề

Cải cách là một nhu cầu không thể thiếu được trong lịch sử của một dân tộc, nhằm đưa đất nước phát triển, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, lệ thuộc, thậm chí vong quốc, nô lệ.

Cách đây hơn hai thế kỷ, trước nguy cơ bành trướng và xâm lược của chủ nghĩa tư bản thực dân châu Âu nhằm tìm kiếm nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ, các nước châu Á đã có những phản ứng hết sức khác nhau. Trong khi phần lớn các nước, trong đó có Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của giai cấp thống trị và các lực lượng yêu nước đã tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang nhằm bảo vệ chủ quyền dân tộc và đều đã bị thất bại, trở thành các thuộc địa hoặc phụ thuộc, thì một số nước, mà đại diện là Nhật Bản và Thái Lan đã thực hiện thành công công cuộc cải cách, giúp đất nước họ, không những phát triển, mà còn bảo vệ được chủ quyền và độc lập. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao trong những điều kiện, bối cảnh, không gian, thời gian và thách thức tương tự, vương quốc Xiêm đã thực hiện thành công tư tưởng cải cách, trong khi những tư tưởng canh tân ở Việt Nam lại không được hiện thực hoá?

Mục đích chính của bài viết này là so sánh trào lưu cải cách ở Xiêm và Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX nhằm tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của công cuộc cải cách ở Xiêm và những lý do khiến cho những đề nghị cải cách ở Việt Nam không được thực hiện. Vì thế, nghiên cứu sẽ không đi sâu vào việc tìm hiểu và trình bày về nội dung, tiến trình cũng như những kết quả của những xu hướng cải cách đó ở cả Xiêm và Việt Nam.

II. Cơ sở hình thành trào lưu cải cách Xiêm và Việt Nam

a. Sự hình thành triều đại Chakri ở Xiêm và triều Nguyễn ở Việt Nam

Lịch sử hình thành nhà nước trung ương ở Xiêm cuối thế kỷ XVIII (triều đại Chakri 1782) và ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX (triều Nguyễn 1802) là một quá trình lịch sử lâu dài nhằm chống lại các thế lực xâm lược từ bên ngoài và các thế lực chia rẽ bên trong.

Vương quốc Thái chủ yếu đầu tiên – Sukhothai được thành lập vào khoảng năm 1219. Nhưng nền tảng chính trị và văn hoá của Sukhothai được các vị vua nổi tiếng từ Ram Khamhaeng (1275-1318) đến Loe Thai, thiết lập vào khoảng từ cuối thế kỷ XIII đến giữa thế kỷ XIV. Đó là quá trình nhằm xác lập vị thế của người Thái, nhằm chống lại các đế chế Ấn hoá ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là các đế chế Angkor của người Khmer. Sau khi Ram Khamhaeng qua đời, vương quốc Sukhothai suy yếu, nhường chỗ cho sự ra đời của vương quốc Ayudhya vào năm 1350 [1] . Sau khi vương triều Ayudhya bị quân Miến Điện [nay là Myamar] xâm chiếm và tàn phá vào năm 1767, Taksin, một người có nguồn gốc Trung Hoa [2] , bằng tài năng quân sự và uy tín của mình, đã lãnh đạo phong trào đánh đuổi quân Miến, giành lại chính quyền và lên ngôi vua vào tháng 12/1767 [3] . Tuy nhiên, triều đại của Taksin tồn tại không lâu. Cuộc khởi nghĩa tháng 3/1782 đã đưa Chao Phya Chakri lên ngôi vua, lấy tên hiệu là Ramathipbodi (Rama), mở đầu một triều đại mới của vua Rama I vào tháng 4/1782. Các ông vua nối tiếp theo từ Rama I đến Rama V (Chulalongkorn) đã tiến hành các cuộc cải cách canh tân đất nước, giúp Thái Lan thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

Nhìn chung trong thời gian trị vì của Rama I đến Rama V, tình hình chính trị ở Xiêm tương đối ổn định chủ yếu vì mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà vua và tầng lớp quý tộc. Tầng lớp quý tộc Xiêm là những yếu tố mang tính tiếp diễn trong lịch sử Xiêm. Các gia đình quý tộc này thường có đại diện bảy đời trong các vị trí của các bộ. Họ bảo vệ nhà vua trên ngai vàng và nhà vua kiểm soát quyền lực bằng cách cân bằng thế lực giữa các gia đình. Trong quá trình phát triển của mình, các vương triều Thái thường tiếp thu có chọn lọc và áp dụng một cách từ từ, uyển chuyển những yếu tố bên ngoài nhằm phục vụ cho hệ thống chính trị của mình.

Khác với Xiêm, lịch sử hình thành triều Nguyễn trải qua một quá trình lịch sử cam go và phức tạp hơn rất nhiều. Sự khác biệt cơ bản đó là Việt Nam từ khi giành được độc lập vào năm 939 sau một nghìn năm Bắc thuộc phải đương đầu với các cuộc xâm lược liên tiếp của các triều đại Trung Quốc. Đó là âm mưu thôn tính Việt Nam của nhà Tống (1075-1076), nhà Nguyên-Mông (ba lần vào các năm 1258, 1284-1285 và 1287-1288), nhà Minh (1407-1427) và nhà Thanh (1789). Các triều đại Trung Quốc, mặc dù là mối đe dọa, nhưng lại có ảnh hưởng sâu sắc trong các vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội Việt Nam. Sau khi giành độc lập, các triều đại Việt Nam đã xây dựng hệ thống cai trị kiểu Trung Quốc. Năm 1075, nhà Lý lập Quốc tử giám, mở đầu chế độ khoa cử kéo dài cho đến tận năm 1914-1917. Nền tảng tư tưởng cho thể chế chính trị lúc đầu là Phật giáo (thời Lý-Trần 1010-1400), đã được thay thế bởi Nho giáo từ thời nhà Lê (1427).

Ngoài những áp lực có tính chất ngoại sinh, các nhà nước phong kiến của Việt Nam, mà đỉnh cao là triều Nguyễn, đều phải trải qua những cuộc đấu tranh nội bộ phức tạp nhằm giành lấy và củng cố quyền lực trước những thế lực đối lập trong nước. Những cuộc chuyển giao quyền lực giữa các triều đại thường kèm theo các cuộc giao tranh, trả thù, tàn sát đẫm máu. Khác với các triều đại phong kiến trước đó như Đinh, Lý, Trần, Lê, triều Nguyễn không có được tính chính thống cho quyền lực và sự thống trị của mình. Khắp nơi, nhất là ở phía bắc, nhà Nguyễn gặp phải sự phản kháng của nhân dân nhằm ủng hộ và khôi phục nhà Lê. Chính sách hà khắc của nhà Nguyễn thông qua bộ máy quan lại sẵn sàng đàn áp bất cứ sự chống đối nào, dù là nhỏ nhất, đã dẫn tới sự bất ổn về mặt chính trị của đất nước. Tính ra, trong giai đoạn này có tới 234 cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp. Đáng kể nhất là cuộc bạo loạn của Tạ Văn Phụng (Lê Duy Minh) vào năm 1861, mạo danh nhà Lê đòi lại ngôi vua, gây ra tình trạng rối ren cho đất nước.

b. Cơ cấu kinh tế

Vương triều Chakri được thiết lập vào năm 1782, có vị trí địa lý rất thuận lợi, thông ra biển bằng một nhánh của sông Chao Phraya. Kinh đô Bangkok của vương triều là một thành phố quốc tế có hoạt động thương mại tấp nập và cởi mở. Các thương gia Trung Quốc, Trung Đông và nhiều vùng khác đã đến đây buôn bán. Các nhà vua Chakri vì thế thường suy nghĩ với tầm nhìn quốc tế. [4] Với việc mở cửa nền kinh tế vào năm 1855, Bangkok đã trở thành trung tâm buôn bán của khu vực:

“Thật khó có thể tìm được bến cảng nào rộng lớn, được bảo vệ chắc chắn, có khả năng cho phép hàng nghìn tàu cập bến.” [5]

Sự phát triển của các yếu tố bên ngoài như thị trường đường thế giới và dòng người Hoa nhập cư ngày một tăng đã làm cho lao động làm thuê, dịch vụ bán buôn và bán lẻ phát triển một cách tự nhiên và dễ dàng [6] . Trong thời gian từ 1882 đến 1910 đã có gần một triệu người Trung Quốc đến Xiêm sinh sống và làm ăn, chiếm khoảng 10% tổng dân số Thái Lan. Trong suốt quá trình phát triển của mình, chính quyền trung ương Xiêm trước sau như một thực hiện chính sách bảo hộ cho các hoạt động kinh doanh của Hoa Kiều. Để đổi lại Hoa kiều phải chia lợi tức từ việc kinh doanh buôn bán cho tầng lớp quan lại Xiêm. Đó là mối quan hệ “có đi có lại”, cộng sinh, không thể thiếu được giữa Hoa kiều và giai cấp thống trị Xiêm. Những cải cách kinh tế đã tạo đà cho quá trình cải cách chính trị. Năm 1874, khi bắt đầu xoá bỏ chế độ nô lệ, Thái Lan đã áp dụng biện pháp miễn trừ thuế nông nghiệp và giảm tỷ lệ thuế nông nghiệp, tạo điều kiện cho việc khai khẩn đất mới và ban hành những quy định quản lý ruộng đất hiện đại vào đầu thế kỷ XX. Người nông dân không được khuyến khích có nhiều đất đai. Ngay cả người trong hoàng tộc cũng chỉ được tối đa 10 vạn rai [1 rai = 1.600m2].

Hoàn toàn ngược lại với bức tranh kinh tế của Xiêm, nhà Nguyễn từ khi lên cầm quyền ở Việt Nam đã triệt để thi hành chính sách “trọng nông, ức thương”. Các biện pháp khuyến nông như khai hoang, làm thuỷ lợi đã giúp nền nông nghiệp phục hồi và phát triển nhiều hơn trước. Tổng diện tích đất nông nghiệp đã tăng từ 3 triệu mẫu vào năm 1820 lên 4,2 triệu mẫu năm 1847 [7] . Nhưng nền kinh tế Việt Nam dưới triều Nguyễn chủ yếu vẫn là nền kinh tế tự cung, tự cấp, lạc hậu, kém phát triển một cách trầm trọng. Cả trong nội thương lẫn ngoại thương, nhà Nguyễn thực hiện chủ trương độc quyền một cách chặt chẽ. Việc buôn bán, vận chuyển gạo, muối – hai mặt hàng được coi là cực kỳ quan trọng – do nhà nước độc quyền quản lý. Ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị [8] . Chính sách này trên thực tế đã kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Về ngoại thương, nhà Nguyễn cũng áp đặt chế độ độc quyền, hạn chế buôn bán với nước ngoài, nếu có thì cũng gặp nhiều thủ tục phiền hà, chịu thuế cao và tệ tham nhũng của giới quan lại [9] . Sản xuất tiểu thủ công nghiệp không đóng vai trò đáng kể nào trong nền kinh tế, hầu như không có sự phát triển so với giai đoạn trước.

c. Cơ cấu xã hội

Thái Lan là một xã hội có tính chất mở, không chặt chẽ. Khác với các nước Đông Nam Á khác, gia đình của người Thái không đóng vai trò gắn kết các thành viên để tạo thành những tổ chức rộng lớn hơn, mà hoạt động khá độc lập. Do điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, dễ dàng di chuyển và kiếm sống, nên các gia đình của người Thái không bắt buộc phải tập hợp mưu sinh theo huyết thống hoặc địa lý. Dưới triều đại Chakri, nhà vua là chủ sở hữu, mọi người đều được quyền canh tác, không hình thành quan hệ sở hữu ruộng đất kiểu phong kiến. Mặc dù có các thành phần khác nhau, nhưng sở hữu đất đai không có tính chất tuyệt đối, nên không có quan hệ lệ thuộc về nhân cách giữa địa chủ và tá điền như thường thấy dưới chế độ phong kiến.

Ngược lại hoàn toàn với xã hội Xiêm thế kỷ XIX, Gia Long sau khi lên ngôi năm 1802, đã lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng và mô hình nhà nước Trung hoa làm khuôn mẫu xây dựng xã hội [10] . Các quan niệm Nho giáo trên thực tế đã không tạo ra được sự ổn định và phát triển, mà ngược lại chỉ kìm hãm, làm cho đất nước bất ổn và không có khả năng tập hợp lực lượng, mỗi khi có sự khủng hoảng hoặc đe dọa của nước ngoài [11] . Trong xã hội Nho giáo đó cơ cấu xã hội được hình thành theo thứ bậc nghiêm ngặt, lần lượt từ cao xuống thấp là sĩ, nông, công, thương [12] . Tuy nhiên, khác với Xiêm, đại bộ phận tầng lớp này do chỉ theo học đạo Nho, bị ràng buộc bởi hệ tư tưởng Nho giáo và quan hệ vua tôi, nên lợi ích của họ gắn liền với lợi ích của triều đình và rất bảo thủ. Tầng lớp này, mặc dù có học thức, quyền lực và địa vị kinh tế, nhưng không đóng vai trò động lực thúc đẩy xã hội tiến bộ, phát triển.

Khác biệt hoàn toàn với tầng lớp nông dân tiểu nông ở Xiêm có sự tự do tương đối về địa vị kinh tế và xã hội, những người nông dân Việt Nam vừa bị trói buộc bởi giáo lý Nho giáo hà khắc, vừa bị kiểm soát bởi những phong tục tập quán của những cộng đồng nơi họ cư trú được ghi chép trong các bộ luật của làng (hương ước). Bộ máy hành chính quan liêu chuyên quyền cộng với thiết chế làng xã là nguyên nhân cơ bản làm cho xã hội Việt Nam trở nên lạc hậu và trì trệ.

Nói tóm lại, xét từ góc độ xã hội, Việt Nam thế kỷ XIX dưới thời nhà Nguyễn thể hiện sự bảo thủ và thụ động. Từ tầng lớp quan lại thống trị, đến tầng lớp bị trị, đều bị trói buộc bởi những tư tưởng lỗi thời. Với một nền tảng kinh tế và một hệ tư tưởng như thế, xã hội Việt Nam không thể tạo ra được một lực lượng xã hội đủ mạnh về chính trị và trình độ, có khả năng tập hợp lực lượng, tạo ra sự thay đổi có tính quyết định và cơ bản.

d. Cơ sở văn hoá giáo dục

Đặc điểm nổi bật của nền giáo dục Thái thời kỳ sơ khai là mối quan hệ hữu cơ với văn hoá Thái và với tiến trình lịch sử của vương quốc Xiêm. Do đó, có thể nói rằng cấu trúc và nội dung của nền giáo dục Thái Lan đã phát huy được những yếu tố truyền thống nội tại, trong khi vẫn tiếp thu những thành quả của khoa học và nghệ thuật bên ngoài.

Từ thời Ram Khamkaeng, đạo Phật đã trở thành động lực chủ yếu cho sự phát triển của xã hội: “Các chùa Phật giáo trở thành các trung tâm học thuật và văn hoá và nghệ thuật làm chủ các vấn đề – bhikkhus [Tì kheo] – được giảng dạy cho tất cả mọi người từ thành phố đến nông thôn” [13] .

Sự trị vì của Rama III (1824-1851) là sự tiếp diễn của quá trình xây dựng đã được bắt đầu bởi Rama I. Nhưng cũng là thời điểm người phương Tây có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn ở Thái Lan. Đây là giai đoạn đánh dấu sự nở rộ của văn hoá truyền thống Thái đồng thời biến đổi những yếu tố truyền thống bằng việc tiếp thu các yếu tố phương Tây. Nhà vua Mongkut [Rama IV] đã có những cuộc trao đổi nghiêm túc về các giá trị của các tôn giáo khác với các nhà truyền giáo Tin lành và Cơ đốc giáo. Vua Mongkut nói thông thạo tiếng Anh, không xa lạ với khoa học phương Tây đặc biệt là thiên văn và vật lý. Được các nhà truyền giáo giảng dạy tiếng Anh và tri thức khoa học mới, vua Mongkut đã có một tư thế tự tin, cái nhìn phê phán đối với văn hoá bản địa. Theo ông, đạo Phật không chỉ là truyền thống của một dân tộc mà còn là một tôn giáo có tính phổ cập, có thể cạnh tranh với Cơ đốc giáo.

Với tư tưởng Nho giáo làm nền tảng, hệ thống giáo dục và thi cử dưới triều Nguyễn được xây dựng với mục đích đào tạo đội ngũ quan lại phục vụ cho triều đình. Mẫu người mà nền giáo dục khoa cử Nho giáo đề cao không phải là một chuyên gia mà là một quan lại, có khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của nhà nước, gắn quyền lợi của mình với vương triều và tuyệt đối trung thành với nhà vua. Vì thế, trong hệ thống giáo dục này, nghề chuyên môn không được khuyến khích đề cao. Nội dung giảng dạy chủ yếu là Tứ Thư và Ngũ Kinh, những tác phẩm kinh điển của Nho giáo Trung Quốc. Các kiến thức dạy và học vì thế thường mang tính phi thực tế, sáo mòn, rập khuôn. Sự bất cập của nền giáo dục Việt Nam bộc lộ trong nội dung giảng dạy (chỉ nhấn mạnh đạo lý thánh hiền, không quan tâm tìm hiểu thế giới khách quan, xa rời thực tê), trong mục tiêu giáo dục (đào tạo người phục vụ cho lợi ích thống trị của nhà Nguyễn), trong tài liệu phục vụ cho dạy và học (ít về chủng loại và số lượng), trong những quy chế ngặt nghèo phi lý của việc học và thi (quy định chữ viết, kiêng huý) [14] .

Trong các đề nghị của mình, các nhà canh tân Việt Nam từ Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ đến Đặng Huy Trứ đều chỉ ra sự bất cập, lỗi thời của nền giáo dục Việt Nam dưới thời Nguyễn và đề ra những biện pháp nhằm chấn chỉnh những yếu kém này. Khi bàn về tầm quan trọng của giáo dục, Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh “việc chỉnh đốn học thuật là cái gốc lớn của quốc gia” [15] , Đặng Huy Trứ thì nhấn mạnh tầm quan trọng của các ngành khoa học tự nhiên mà nền giáo dục Việt Nam không bao giờ đề cập đến: “Thiên văn, toán học ta đều chưa biết hết nên sao hiểu được cơ trời để sớm lo toan được cho dân… Trải qua việc mới biết tài học ta nông cạn. Văn chương có bao giờ chống nổi với gió bão” [16] . Mạnh mẽ và quyết liệt hơn, Nguyễn Trường Tộ đã phê phán lối học một đằng làm một nẻo “…lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú, lớn lên ra làm thì lại luật, lịch, binh, hình”, hoặc lối học không thực tế: “… học và dùng những gì mà mắt không trông thấy, chân không đặt đến” [17] .

Nói tóm lại, từ góc độ giáo dục có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa Việt Nam [và Xiêm]: một bên là nền giáo dục Nho giáo khuôn sáo, máy móc, bảo thủ và một bên là nền giáo dục Phật giáo kết hợp với Ấn Độ giáo cởi mở, dân chủ, thiết thực. Điều khác biệt thứ hai là yếu tố kết hợp cải cách giáo dục phải gắn liền với mở cửa, giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài, với chuyên gia nước ngoài và cử người đi học ở nước ngoài. Nếu như Ở Xiêm, quá trình này được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với quy mô và tốc độ ngày càng cao thì ở Việt Nam, điều này diễn ra ở mức độ rất hạn chế, hầu như không đáng kể.

III. Một số nhận xét về trào lưu cải cách ở Xiêm và Việt Nam

a. Về tiến trình và lực lượng cải cách

Để thực hiện cải cách thành công, các ông vua của triều đại Chakri đã chủ động thực hiện một chương trình cải cách từ từ, phù hợp với tình hình nội tại của đất nước và khu vực. Với tư cách là kết quả của một quá trình đổi mới kinh tế và chính trị kéo dài tới năm 1868, đời sống chính trị của Xiêm đã được cải thiện rõ rệt. Việc làm đầu tiên mở màn cho công cuộc cải cách của Chulalongkorn là vào năm 1873, khi ông tuyên bố bãi bỏ tục quỳ lạy vua, một biểu tượng thần phục truyền thống lâu đời. Điều này có ý nghĩa hai mặt: thần phục không có nghĩa là hạ mình và trong thực tế điều này còn chứng tỏ Xiêm đã cởi mở hơn trong tiếp thu các hình thức ngoại giao hiện đại của phương Tây.

Việc làm thứ hai của vua Chulalongkorn là thủ tiêu chế độ nô lệ. Đây là quyết định quan trọng và có tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội và vì vậy gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ nhất. Về vấn đề này, vua Chulalongkorn có quan điểm đề ra lộ trình thích hợp cho việc xoá bỏ chế độ dã man này, nhưng không thể thay đổi tất cả trong một đêm, bởi vì điều đó sẽ đem lại tình trạng nguy hiểm cho nô lệ[18] .

Một trong những thay đổi quan trọng nhất diễn ra cùng với sự cải cách là việc mở rộng sự kiểm soát của chính quyền trung ương đối với các tỉnh và các vùng xa trung tâm. Dựa theo mẫu hình Anh ở Ấn Độ và Miến Điện, Xiêm đã nhóm các tỉnh thành các monthon(giới/hạt) dưới sự kiểm soát của các uỷ viên hội đồng. Phần lớn những người này là anh em của nhà vua. Các chức vụ này đã được đặt ở Luang Phrabang, Chieng Mai, Phuket và Battambang vào những năm 1879. Sau đó, chức vụ này được mở rộng thêm ở Nong Khai, Champassak, Nakhon Ratchasima (Khorat) và Ubon và những năm 1880.

Nói tóm lại, cải cách ở Xiêm thế kỷ XIX là một quá trình được các ông vua từ Rama I đến Rama V thực hiện một cách chủ động, dần dần từng bước, có tính toán và có sự chuẩn bị cẩn thận. Trong quá trình đó, nhà nước đóng một vai trò quan trọng.

Nếu so sánh với công cuộc cải cách ở Xiêm, chúng ta thấy sự khác biệt căn bản giữa hai nước nằm ở chính bản thân những người đứng đầu đất nước mà cụ thể là các nhà vua của triều Chakri ở Xiêm và triều Nguyễn ở Việt Nam. Nếu các ông vua từ Rama I đến Rama V của Xiêm thực sự là những người khởi xướng công cuộc cải cách, có nhận thức đúng đắn về tình hình khu vực và quốc tế, luôn chủ động và có kế hoạch rõ ràng cho những chủ trương cải cách, thì các ông vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng lại thể hiện sự bảo thủ, trì trệ, lúng túng, bị động, thiếu nhận thức đầy đủ về thời thế và không quyết tâm thực hiện cải cách đến cùng.

Xét từ yếu tố con người trong so sánh với Xiêm, có thể thấy tư tưởng cải cách ở Việt Nam chỉ do một số rất ít, một nhóm các quan lại, chí sĩ, do có tiếp xúc với thế giới bên ngoài, do có nhận thức cao hơn những người cùng thời khởi thảo, đề xướng. Những đề nghị đó trên thực tế mới chỉ là những biểu hiện của một xu hướng mới, nên không được những người đứng đầu triều Nguyễn cũng như đông đảo quần chúng chấp nhận và ủng hộ, không tạo thành một phong trào có tính rộng khắp.

Những đại diện tiêu biểu cho xu hướng cải cách ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX bao gồm Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch [19] . Điểm chung nhất trong các nhà cải cách Việt Nam giai đoạn này là họ đều là những người xuất thân trong các gia đình khoa bảng, thừa hưởng nền giáo dục Nho học và thuộc tầng lớp trên của xã hội. Nhờ có trình độ học vấn và đỗ đạt trong các kỳ thi, phần lớn họ vì thế đều nắm giữ một vị trí nhất định trong bộ máy quan lại của triều đình nhà Nguyễn. Ví dụ như Phạm Phú Thứ đỗ tiến sĩ năm 1843 và đã từng giữ chức Thượng thư Bộ Hộ. Bùi Viện từng được cử đi sứ hai lần sang Mỹ với mục đích cầu viện cứu nước nhưng không thành công. Cho dù có vị trí như thế nào trong bộ máy đó, tất cả họ đều thể hiện là những ông quan không ham danh vọng, có tâm huyết với vận mệnh của dân tộc, mong muốn đất nước cường thịnh bằng con đường canh tân đổi mới.

Điểm chung thứ hai của những nhà canh tân Việt Nam giai đoạn này là họ đều là những người trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều, có tiếp xúc với văn minh phương Tây, với thế giới bên ngoài. Mặc dù còn rất nhiều hạn chế, nhưng họ là những người thông qua giao lưu với thế giới bên ngoài, mới có những hiểu biết và có thể so sánh tình hình Việt Nam với khu vực và thế giới, phù hợp với thực tế khách quan.

Phần lớn các nhà cải cách đều bày tỏ sự lo ngại về tình hình đất nước, về thái độ bàng quan, thờ ơ, chậm trễ của triều đình. Theo họ, lẽ ra phải tiến hành ngay các biện pháp canh tân, chấn hưng đất nước, phải đề ra những chủ trương đối nội và đối ngoại phù hợp, chứ không thể chần chừ, chờ đợi lâu hơn nữa [20] . xuất phát từ nhận thức về thời thế, các nhà cải cách Việt Nam thế kỷ XIX đều nhằm vào các mục đích trước mắt và lâu dài cho một chương trình cải cách toàn diện. Mục đích cấp thiết trước mắt theo các nhà cải cách là tạo ra thế cân bằng cho đất nước đủ sức chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, cứu dân tộc khỏi ách nô dịch. Không chỉ hạn chế bởi những mục đích ngắn hạn, trước mắt nhằm chống lại sự xâm lược của Pháp, các nhà cải cách còn nhìn nhận và đề ra mục đích lâu dài mà các kế hoạch này phải đạt được. Đó là đưa đất nước phát triển toàn diện về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá và giáo dục, nhằm tiến kịp, thậm chí vượt các quốc gia trong khu vực và thế giới, bởi vì theo Đặng Huy Trứ “trong thiên hạ, không có cái nhục nào bằng cái nhục không được như người” [21] .

Trước mắt, các nhà cải cách đều thống nhất kế hoạch thực hiện một loạt các biện pháp tức thời mà trọng tâm là cải cách quân đội như học tập binh thư kết hợp với sử dụng, chế tạo vũ khí, tăng cường kỷ luật quân ngũ, có chế độ ưu đãi thích đáng cho quân đội, xây dựng lực lượng dân binh hùng hậu… Về lâu dài, theo các nhà canh tân, triều đình phải thực hiện công cuộc cải cách sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, ngoại giao, xã hội, văn hoá và giáo dục nhằm đưa đất nước phát triển hơn các nước đương thời. Mô hình mà Việt Nam phải hướng tới và xây dựng cho được theo Nguyễn Trường Tộ chính là nước Mỹ [22] .

Nói tóm lại, ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX mới chỉ xuất hiện một xu hướng cải cách trong một số rất ít người thuộc tầng lớp nho sĩ và quan lại, chứ chưa tạo ra thành một phong trào hay làn sóng cải cách sâu rộng trong xã hội. Khác với ở Xiêm, trào lưu cải cách ở Việt Nam không được triều Nguyễn ủng hộ, thậm chí có sự mâu thuẫn trong tư tưởng của nhà cải cách. Ngoài ra, một đặc điểm căn bản khác của tư tưởng cải cách ở Việt Nam là các đề nghị cải cách thiên về ảnh hưởng bên ngoài, thiếu cơ sở vật chất để tiếp nhận từ bên trong, không đề cập tới quyền lợi của nông dân và còn mang nặng tư tưởng phong kiến [23] .

b. Về phản ứng với thế lực bên ngoài

Khi nghiên cứu về quan hệ quốc tế của Thái Lan, một nhà nghiên cứu Nhật Bản đi đến kết luận: Ngoại giao Thái Lan lặp đi lặp lại một mô thức: quan hệ quốc tế xung quanh Thái Lan căng thẳng – Thái Lan giữ thái độ trung lập để chọn bên đứng về phía chiếm ưu thế để kiếm lợi lớn nhất với sự hy sinh nhỏ nhất [24] . Mô hình ngoại giao này được các nhà nghiên cứu quốc tế gọi là ngoại giao lựa chọn. Đối với Thái Lan, sự lựa chọn xảy ra khi quan hệ quốc tế căng thẳng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích và đồng thời tồn tại nhiều lực lượng thù địch với nước này. Trong trường hợp đó, Thái Lan thường bắt tay với cả hai phía đối địch, rồi xem xét tương quan lực lượng của hai bên, chọn phía có lợi cho nước mình để hợp tác. Cũng có khi Thái Lan bắt tay với một phía trong các bên thù địch nhau, rồi lại nhích lại gần với bên kia để kiềm chế bên mà mình đang bắt tay để kiếm lợi cho nước mình. Mục đích của sự lựa chọn này là kiếm lợi lớn nhất với sự hy sinh nhỏ nhất. Ngoại giao Thái Lan vì thế là ngoại giao thực dụng và mềm dẻo.

Tình hình nửa cuối thế kỷ XIX đã đặt vương quốc Xiêm trước những thách thức mới. Trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, khu vực Đông Nam Á trở thành nơi diễn ra cuộc chiến tranh giành thuộc địa của hai nước Anh và Pháp. Vào khoảng năm 1800, Anh đã hoàn toàn chiếm được khu vực xung quanh Penang trên bán đảo Mã Lai. Đến năm 1886, Anh chiếm được toàn bộ Miến Điện. Như vậy, Anh đã tiến sát đến vùng biên giới phía nam và phía tây Thái Lan. Mặt khác, năm 1859, Pháp chiếm được Nam Việt Nam, biến vùng này thành thuộc địa. Đến năm 1863, Pháp đã chiếm được Campuchia, biến nước này thành đất bảo hộ. Công cuộc chinh phạt của Pháp ở Đông Dương đã hoàn thành vào năm 1885. Như vậy, chủ quyền của Thái Lan ở biên giới phía đông bị đe dọa nghiêm trọng.

Từ năm 1851, khi sự đe dọa của hai cường quốc đó bắt đầu tăng lên, thì Mongkut (1851-1868) lên ngôi vua. Mongkut tin rằng nếu không hợp tác với các nước Tây Âu thì Thái Lan sẽ bị chinh phục. Niềm tin của Mongkut được khẳng định bởi việc Trung Quốc bị thất bại trong cuộc chiến tranh thuốc phiện năm 1842. Ông cho rằng một nước mà Thái Lan đã kính phục trong nhiều thế kỷ về sức mạnh và uy tín như Trung Quốc đã không đương đầu nổi trước sức ép của Tây Âu thì Thái Lan cũng không thể duy trì được nền độc lập của mình. Vì thế, năm 1855, vua Mongkut đã quyết định ký hiệp ước thông thương hữu nghị Thái-Anh với thống đốc Hongkong lúc đó là Huân tước [Sir John] Bowring. Hiệp ước này đã đi vào lịch sử quan hệ ngoại thương của Xiêm với tên gọi là Hiệp ước Bowring. Theo quy định của những điều khoản ký kết, Xiêm chấp nhận quyền lãnh sự tài phán, thủ tiêu sự độc quyền của cả hoàng gia và tư nhân về hàng hoá, thương mại và quá cảnh và thiết lập một mức thuế “dũng cảm” là 3% đối với hàng nhập khẩu và 5% với hàng xuất khẩu[25] . Ngay cả thuế đất đối với các chủ người Anh cũng được định với giá thấp, ngăn không cho chính quyền nâng giá đất đối với chính người dân Thái. Sự cấm đoán xuất khẩu gạo trước đây cũng bị xoá bỏ. Chính phủ chỉ giữ lại những quy định cũ đối với những tô giới liên quan đến xuất nhập khẩu ma tuý là độc quyền của nhà nước.

Hiệp ước này đã mở đường cho Thái Lan ký các hiệp ước thông thương khác với một loạt cường quốc sau đó, cho nên nó được coi là mốc khởi đầu cho quá trình mở cửa của Thái Lan. Tuy nhiên, đây là hiệp ước bất bình đẳng thừa nhận đặc quyền kinh tế và quyền lãnh sự tài phán của người Anh, cho nên nguy cơ Thái Lan trở thành thuộc địa của Anh luôn rình rập nước này.

Sau khi ký hiệp ước với Anh, Thái Lan lại quay sang thân thiện với Pháp, là lực lượng thù địch của Anh để kiềm chế sức ép về chính trị và kinh tế ngày càng tăng của Anh. Do buộc được hai thế lực này phải đối phó với nhau, Thái Lan không trở thành thuộc địa và có thể duy trì được độc lập. Như vậy là đồng thời với việc mở cửa, ngoại giao lựa chọn của Thái Lan đã thu được kết quả lớn. Sự độc lập của Xiêm trong giai đoạn này chủ yếu nhờ vào sự thù địch, cạnh tranh của Anh và Pháp. Bên nào cũng lo ngại sự xâm lược của bên kia hoặc là sự vượt trội của đối phương. Bangkok đã biết tận dụng tình thế này và tạo ra điểm tựa cho sự cân bằng quyền lực. Điều chủ yếu mà Anh và Pháp có thể thống nhất được là đảm bảo sự độc lập của đồng bằng sông Chao Phraya năm 1896.

Điều đó có nghĩa là Xiêm khó có thể kiểm soát được bán đảo Mã Lai, các tỉnh đông nam giáp ranh với Campuchia và toàn bộ vùng đông bắc Thái Lan hiện nay. Bangkok đã có thể giữ được phần lớn lãnh thổ này chỉ vì kết hợp được các yếu tố may mắn, hiện đại hoá. đúng lúc và khả năng ngoại giao tài tình.

Trước mối đe dọa về chủ quyền từ hai cường quốc phương Tây vào những năm cuối của thế kỷ XIX, Xiêm đã buộc phải ký hoà ước năm 1907 đồng ý cắt một số vùng lãnh thổ ở Lào và Campuchia và một khoản tiền lớn cho Pháp. Cái giá phải trả cho Anh cũng đắt tương tự, khi Xiêm buộc phải trả lại 4 tỉnh Kedah, Perlis, Kelantan và Trengganu cho Anh. Những hiệp ước này đã phần nào làm giảm áp lực của các cường quốc đối với chủ quyền của Xiêm và đảm bảo sự an toàn biên giới lãnh thổ của một quốc gia được quốc tế thừa nhận.

Thái độ của Việt Nam đối với phương Tây ngược lại hoàn toàn những gì đã xảy ra ở Xiêm. Ngay từ năm 1847, khi thực dân Pháp lần đầu tiên nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng, đánh chìm năm chiếc tàu của Việt Nam, đã cho thấy thái độ trịch thượng của những kẻ đi xâm lược và những thách thức mới mà Việt Nam phải đương đầu. Âm mưu xâm chiếm Việt Nam của Pháp đã rõ ràng, mặc dù mãi đến năm 1858, Pháp mới chính thức tiến hành cuộc chinh phạt của họ 11 năm là khoảng thời gian không ngắn giữa hai lần tấn công, của thực dân Pháp, nhưng điều ngạc nhiên là triều đình nhà Nguyễn không hề có sự chuẩn bị hoặc những đối sách cụ thể nào nhằm ngăn chặn âm mưu đó. Vì thực dân Pháp nhận thấy sự lúng túng, lo ngại, yếu kém, mâu thuẫn trong nội bộ triều đình, nên đã quyết định hành động một cách mạnh mẽ và dứt khoát hơn. Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, mà không có sự phản ứng đáng kể nào từ phía triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp đã dần dần mở rộng sự chinh phạt ra các khu vực lân cận, xung quanh. Đứng trước nguy cơ mất nước và hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền của thực dân Pháp, ngay từ đầu, vua Gia Long [?] đã cảnh giác hơn trong quan hệ với Pháp, thực thi chính sách đóng cửa, bế quan toả cảng, hạn chế buôn bán, tiếp xúc với nước ngoài. Hành động này thể hiện năng lực hạn chế của triều đình trong việc phân tích tình hình thế giới và khu vực, khả năng phán đoán và đánh giá kẻ thù cũng như thái độ ứng xử bất cập trong quan hệ quốc tế.

Kế tục sự nghiệp của Gia Long, mặc dù là được coi là ông vua có trí tuệ hơn người, nhưng Minh Mạng vẫn tiếp tục đường lối đối ngoại đóng cửa mà cha ông để lại. Ngoài một số cải cách nhằm củng cố chính quyền phong kiến, Minh Mạng đã không có một sự thay đổi nào trong chính sách đối với phương Tây, mặc dù thời thế đã thay đổi. Không những không sử dụng, ông còn tìm cách vô hiệu hoá những người Pháp đã từng làm việc trong triều dưới thời Gia Long. Trước số lượng tàu buôn nước ngoài kéo đến xin mở cửa thông thương ngày một đông, Minh Mạng đã kiên quyết cự tuyệt chỉ vì sợ họ can thiệp vào công việc của triều đình. Sự kiện Trung Quốc bị thất bại trong chiến tranh Nha phiến với người Anh và các nước phương Tây đã làm cho nhà vua càng thêm lo sợ và xa lánh bọn người “man di” này. Mặc dù vào năm 1840, Minh Mạng có cử một số phái đoàn ra nước ngoài, nhưng đường lối đối ngoại của ông thì không hề thay đổi. Trên thực tế, những phái đoàn này được cử đi không phải nhằm mục đích thiết lập quan hệ ngoại giao, mở rộng giao thương, mà chủ yếu để tìm hiểu khả năng và kế hoạch của người phương Tây mà thôi. Đến thời Thiệu Trị và Tự Đức, chính sách đối ngoại của triều Nguyễn vẫn không hề thay đổi theo hướng cởi mở, mà thậm chí còn có chiều cứng nhắc hơn.

Xuất phát từ quan niệm cho rằng việc đặt quan hệ giao dịch, thương mại chính thức với các nước phương Tây có thể sẽ dẫn đến sự suy đồi về đạo đức, làm xói mòn những giá trị của tư tưởng Nho giáo, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế và quyền lực, sự tồn tại của triều đình, nên các ông vua triều Nguyễn đã bày tỏ thái độ cự tuyệt với xu hướng này. Ngoài ra, những hoạt động trắng trợn của các giáo sĩ thừa sai như xâm nhập bất hợp pháp lãnh thổ, hỗ trợ một số hoạt động chống đối triều đình của một số lực lượng xã hội trong quá trình truyền bá Thiên chúa giáo, nên triều đình nhà Nguyễn càng thận trọng, e dè và cảnh giác trong quan hệ với phương Tây. Thậm chí, vua Tự Đức còn ban hành các chỉ dụ cấm đạo, không cho các giáo sĩ hoạt động, gây ra sự căng thẳng trong quan hệ Việt-Pháp, tạo thành cái cớ để Pháp đẩy nhanh quá trình can thiệp vào Việt Nam.

Nói tóm lại, phản ứng của triều Nguyễn trước sự bành trướng về thương mại và quân sự của Pháp và các nước phương Tây là thụ động, lo sợ, nghi ngờ, thiếu tự tin và bất cập. Thay vì một mặt phải tìm hiểu, tiếp cận, nghiên cứu đối phương, mặt khác phải phát huy sức mạnh của bộ máy, động viên, tập hợp lực lượng, nhà Nguyễn đã tìm cách né tránh, hạn chế giao tiếp, thực hiện chủ trương bế quan toả cảng.

IV. Kết luận

Nói tóm lại, so sánh nguyên nhân thành công của công cuộc cải cách ở Xiêm và nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân đất nước ở Việt Nam thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, chúng ta có thể rút ra một số kết luận sau đây.

Thứ nhất, công cuộc cải cách ở Xiêm và những đề nghị canh tân đất nước ở Việt Nam tuy diễn ra trong cùng một thời kỳ, khi mà chủ nghĩa thực dân phương Tây đang có nhu cầu và âm mưu mở rộng ảnh hưởng, tìm kiếm thị trường phục vụ cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng ở vào những thời điểm khác nhau. Nếu như ở Xiêm, nhà nước trung ương tập quyền đã được xây dựng và củng cố từ giữa thế kỷ XVIII thì quá trình này ở Việt Nam chỉ mới hoàn thành vào đầu thế kỷ XIX.

Thứ hai, những cơ sở chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, giáo dục của vương quốc Xiêm so với Việt Nam vào thế kỷ XIX có nhiều thuận lợi hơn cho việc hình thành, phát triển và thực hiện các chủ trương cải cách. Mặc dù cả Xiêm và Việt Nam đều là chế độ phong kiến trung ương tập quyền, nhưng so với Việt Nam, xã hội Xiêm là một xã hội thông nhất, cởi mở hơn. Tuy nền kinh tế của cả hai nước đều lấy canh tác nông nghiệp làm cơ sở phát triển, nhưng yếu tố hàng hoá, thị trường ở Xiêm phát triển mạnh hơn nhiều so với Việt Nam. Nói tóm lại, ở Xiêm, những tiền đề cho xu hướng cải cách được định hình và phát triển đầy đủ hơn so với ở Việt Nam.

Thứ ba, tầng lớp lãnh đạo tối cao, mà đại diện là các nhà vua Thái Lan và các quan chức cao cấp trong bộ máy hành chính, vừa là những người chủ xướng đưa ra ý tưởng, vừa là những người có quyền lực để thực thi những chủ trương đó. Tầng lớp này được đào tạo, bồi dưỡng một cách chủ động, phát huy được tính kế thừa, tiếp diễn, tạo thành một lực lượng và sức mạnh chủ đạo, vượt trội, có khả năng lãnh đạo cải cách đi đến thắng lợi, trong khi ở Việt Nam, lực lượng cải cách ít về số lượng, kém về chất lượng.

Thứ tư, trong quan hệ quốc tế, tầng lớp lãnh đạo Xiêm có nhận thức đúng đắn về tình hình khu vực và quốc tế, biết tận dụng một cách triệt để thời cơ, biết khai thác mâu thuẫn giữa các đối thủ, biết hy sinh những lợi ích trước mắt, phục vụ cho những mục tiêu lâu dài. Trên cơ sở đó, họ đã đề ra đường lối đối ngoại phù hợp, cởi mở, thực dụng./.

Tác giả, Tiến sĩ Phạm Quang Minh, công tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 6(81)/2006, tr. 29-40.

Hình: Vua Chulalongkorn và gia đình, ăn vận theo thời trang thời kỳ Victoria. Nguồn: Wikipedia.

—————-

[1]Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai (chủ biên), Lịch sử Thái Lan, NXB KHXH, Hà Nội 1998, tr. 173-180, 195-199.

[2]H. Mouhot, Travels in the Central Parts of Indochina (Siam), Cambodia and Laos During the Years 1858, 1859 and 1860, London 1964, tr. 86-89.

[3]J. Bowring, The Kingdom and People of Siam with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Vol.1, London 1857, tr. 67-69.

[4]D. Steinberg, In Search, tr.112.

[5]M. Pallegoix, Description, Vol.1, tr.10.

[6]trong số 400.000 dân Bangkok những năm 1830, chỉ có 120.000 người Xiêm. Số người Hoa chiếm tới 200.000, tức là 1/2 dân số của thành phố. M. Pallegoix, sđd, tr. 60.

[7]Những vấn đề văn hoá xã hội thời Nguyễn, NXB KHXH, Hà Nội 1992, tr.118.

[8]Đại Nam thực lục Chính biên, T.28, NXB KHXH, Hà Nội 1973, tr. 224-225.

[9]Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX, NXB Sử học, Hà Nội 1961, tr. 134-135.

[10]A. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Harvard University Press 1988.

[11]Nguyễn Hồng Phong, Văn hoá chính trị Việt Nam – Truyền thông và hiện đại, NXB VHTT, Hà Nội (?), tr. 135.

[12]Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Ban KHXH Thành uỷ Tp HCM 1990, tr. 210.

[13]Wapola Rahula, History of Buddhism in Ceylon: The Anuradhapura Period, 3rd Century BC-10th Century AC, Colombo 1956, tr. 161, 162-165, 292.

[14]Nguyễn Quốc Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB VHTT, Hà Nội 1994, tr.101-112.

[15]Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ Con người và di cảo, NXB Tp HCM 1988, tr. 277.

[16]Nhóm Trà Lĩnh, Đặng Huy Trứ – Con người và Tác phẩm, NXB Tp HCM, 1990, tr. 271.

[17]Trương Bá Cần, sđd, tr. 249.

[18]Chulalongkorn, The Great, The Centre for East Asian Cultural Studies, Tokyo 1965, tr. 52.

[19]Lê Thị Lan, Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, NXB KHXH, Hà Nội 2002.

[20]Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Lộ Trạch và di thảo, NXB KHXH, Hà Nội 1995, tr. 55.

[21]Nhóm Trà Lĩnh, sđd, tr. 438.

[22]Trương Bá Cần, sđd, tr. 137.

[23]Lê Thị Lan, sđd .

[24]Tanaka Tadaharu, Thái Lan là thế đó, tr. 118.

[25]Rebrikova N.V., Otrerki, tr. 149.

- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2015/09/14/cai-cach-xiem-viet-nam/#sthash.VcUcTsi3.dpuf