Thứ Tư, 25 tháng 1, 2017

Cải cách ở Xiêm và Việt Nam cuối TK 19, đầu TK 20: Những nguyên nhân thành bại

Posted on 14/09/2015 by The Observer
Print Friendly
King_Chulalongkorn_and_Family-e1429276363524

Tác giả: Phạm Quang Minh

I. Đặt vấn đề

Cải cách là một nhu cầu không thể thiếu được trong lịch sử của một dân tộc, nhằm đưa đất nước phát triển, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, lệ thuộc, thậm chí vong quốc, nô lệ.

Cách đây hơn hai thế kỷ, trước nguy cơ bành trướng và xâm lược của chủ nghĩa tư bản thực dân châu Âu nhằm tìm kiếm nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ, các nước châu Á đã có những phản ứng hết sức khác nhau. Trong khi phần lớn các nước, trong đó có Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của giai cấp thống trị và các lực lượng yêu nước đã tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang nhằm bảo vệ chủ quyền dân tộc và đều đã bị thất bại, trở thành các thuộc địa hoặc phụ thuộc, thì một số nước, mà đại diện là Nhật Bản và Thái Lan đã thực hiện thành công công cuộc cải cách, giúp đất nước họ, không những phát triển, mà còn bảo vệ được chủ quyền và độc lập. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao trong những điều kiện, bối cảnh, không gian, thời gian và thách thức tương tự, vương quốc Xiêm đã thực hiện thành công tư tưởng cải cách, trong khi những tư tưởng canh tân ở Việt Nam lại không được hiện thực hoá?

Mục đích chính của bài viết này là so sánh trào lưu cải cách ở Xiêm và Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX nhằm tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của công cuộc cải cách ở Xiêm và những lý do khiến cho những đề nghị cải cách ở Việt Nam không được thực hiện. Vì thế, nghiên cứu sẽ không đi sâu vào việc tìm hiểu và trình bày về nội dung, tiến trình cũng như những kết quả của những xu hướng cải cách đó ở cả Xiêm và Việt Nam.

II. Cơ sở hình thành trào lưu cải cách Xiêm và Việt Nam

a. Sự hình thành triều đại Chakri ở Xiêm và triều Nguyễn ở Việt Nam

Lịch sử hình thành nhà nước trung ương ở Xiêm cuối thế kỷ XVIII (triều đại Chakri 1782) và ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX (triều Nguyễn 1802) là một quá trình lịch sử lâu dài nhằm chống lại các thế lực xâm lược từ bên ngoài và các thế lực chia rẽ bên trong.

Vương quốc Thái chủ yếu đầu tiên – Sukhothai được thành lập vào khoảng năm 1219. Nhưng nền tảng chính trị và văn hoá của Sukhothai được các vị vua nổi tiếng từ Ram Khamhaeng (1275-1318) đến Loe Thai, thiết lập vào khoảng từ cuối thế kỷ XIII đến giữa thế kỷ XIV. Đó là quá trình nhằm xác lập vị thế của người Thái, nhằm chống lại các đế chế Ấn hoá ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là các đế chế Angkor của người Khmer. Sau khi Ram Khamhaeng qua đời, vương quốc Sukhothai suy yếu, nhường chỗ cho sự ra đời của vương quốc Ayudhya vào năm 1350 [1] . Sau khi vương triều Ayudhya bị quân Miến Điện [nay là Myamar] xâm chiếm và tàn phá vào năm 1767, Taksin, một người có nguồn gốc Trung Hoa [2] , bằng tài năng quân sự và uy tín của mình, đã lãnh đạo phong trào đánh đuổi quân Miến, giành lại chính quyền và lên ngôi vua vào tháng 12/1767 [3] . Tuy nhiên, triều đại của Taksin tồn tại không lâu. Cuộc khởi nghĩa tháng 3/1782 đã đưa Chao Phya Chakri lên ngôi vua, lấy tên hiệu là Ramathipbodi (Rama), mở đầu một triều đại mới của vua Rama I vào tháng 4/1782. Các ông vua nối tiếp theo từ Rama I đến Rama V (Chulalongkorn) đã tiến hành các cuộc cải cách canh tân đất nước, giúp Thái Lan thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

Nhìn chung trong thời gian trị vì của Rama I đến Rama V, tình hình chính trị ở Xiêm tương đối ổn định chủ yếu vì mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà vua và tầng lớp quý tộc. Tầng lớp quý tộc Xiêm là những yếu tố mang tính tiếp diễn trong lịch sử Xiêm. Các gia đình quý tộc này thường có đại diện bảy đời trong các vị trí của các bộ. Họ bảo vệ nhà vua trên ngai vàng và nhà vua kiểm soát quyền lực bằng cách cân bằng thế lực giữa các gia đình. Trong quá trình phát triển của mình, các vương triều Thái thường tiếp thu có chọn lọc và áp dụng một cách từ từ, uyển chuyển những yếu tố bên ngoài nhằm phục vụ cho hệ thống chính trị của mình.

Khác với Xiêm, lịch sử hình thành triều Nguyễn trải qua một quá trình lịch sử cam go và phức tạp hơn rất nhiều. Sự khác biệt cơ bản đó là Việt Nam từ khi giành được độc lập vào năm 939 sau một nghìn năm Bắc thuộc phải đương đầu với các cuộc xâm lược liên tiếp của các triều đại Trung Quốc. Đó là âm mưu thôn tính Việt Nam của nhà Tống (1075-1076), nhà Nguyên-Mông (ba lần vào các năm 1258, 1284-1285 và 1287-1288), nhà Minh (1407-1427) và nhà Thanh (1789). Các triều đại Trung Quốc, mặc dù là mối đe dọa, nhưng lại có ảnh hưởng sâu sắc trong các vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội Việt Nam. Sau khi giành độc lập, các triều đại Việt Nam đã xây dựng hệ thống cai trị kiểu Trung Quốc. Năm 1075, nhà Lý lập Quốc tử giám, mở đầu chế độ khoa cử kéo dài cho đến tận năm 1914-1917. Nền tảng tư tưởng cho thể chế chính trị lúc đầu là Phật giáo (thời Lý-Trần 1010-1400), đã được thay thế bởi Nho giáo từ thời nhà Lê (1427).

Ngoài những áp lực có tính chất ngoại sinh, các nhà nước phong kiến của Việt Nam, mà đỉnh cao là triều Nguyễn, đều phải trải qua những cuộc đấu tranh nội bộ phức tạp nhằm giành lấy và củng cố quyền lực trước những thế lực đối lập trong nước. Những cuộc chuyển giao quyền lực giữa các triều đại thường kèm theo các cuộc giao tranh, trả thù, tàn sát đẫm máu. Khác với các triều đại phong kiến trước đó như Đinh, Lý, Trần, Lê, triều Nguyễn không có được tính chính thống cho quyền lực và sự thống trị của mình. Khắp nơi, nhất là ở phía bắc, nhà Nguyễn gặp phải sự phản kháng của nhân dân nhằm ủng hộ và khôi phục nhà Lê. Chính sách hà khắc của nhà Nguyễn thông qua bộ máy quan lại sẵn sàng đàn áp bất cứ sự chống đối nào, dù là nhỏ nhất, đã dẫn tới sự bất ổn về mặt chính trị của đất nước. Tính ra, trong giai đoạn này có tới 234 cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp. Đáng kể nhất là cuộc bạo loạn của Tạ Văn Phụng (Lê Duy Minh) vào năm 1861, mạo danh nhà Lê đòi lại ngôi vua, gây ra tình trạng rối ren cho đất nước.

b. Cơ cấu kinh tế

Vương triều Chakri được thiết lập vào năm 1782, có vị trí địa lý rất thuận lợi, thông ra biển bằng một nhánh của sông Chao Phraya. Kinh đô Bangkok của vương triều là một thành phố quốc tế có hoạt động thương mại tấp nập và cởi mở. Các thương gia Trung Quốc, Trung Đông và nhiều vùng khác đã đến đây buôn bán. Các nhà vua Chakri vì thế thường suy nghĩ với tầm nhìn quốc tế. [4] Với việc mở cửa nền kinh tế vào năm 1855, Bangkok đã trở thành trung tâm buôn bán của khu vực:

“Thật khó có thể tìm được bến cảng nào rộng lớn, được bảo vệ chắc chắn, có khả năng cho phép hàng nghìn tàu cập bến.” [5]

Sự phát triển của các yếu tố bên ngoài như thị trường đường thế giới và dòng người Hoa nhập cư ngày một tăng đã làm cho lao động làm thuê, dịch vụ bán buôn và bán lẻ phát triển một cách tự nhiên và dễ dàng [6] . Trong thời gian từ 1882 đến 1910 đã có gần một triệu người Trung Quốc đến Xiêm sinh sống và làm ăn, chiếm khoảng 10% tổng dân số Thái Lan. Trong suốt quá trình phát triển của mình, chính quyền trung ương Xiêm trước sau như một thực hiện chính sách bảo hộ cho các hoạt động kinh doanh của Hoa Kiều. Để đổi lại Hoa kiều phải chia lợi tức từ việc kinh doanh buôn bán cho tầng lớp quan lại Xiêm. Đó là mối quan hệ “có đi có lại”, cộng sinh, không thể thiếu được giữa Hoa kiều và giai cấp thống trị Xiêm. Những cải cách kinh tế đã tạo đà cho quá trình cải cách chính trị. Năm 1874, khi bắt đầu xoá bỏ chế độ nô lệ, Thái Lan đã áp dụng biện pháp miễn trừ thuế nông nghiệp và giảm tỷ lệ thuế nông nghiệp, tạo điều kiện cho việc khai khẩn đất mới và ban hành những quy định quản lý ruộng đất hiện đại vào đầu thế kỷ XX. Người nông dân không được khuyến khích có nhiều đất đai. Ngay cả người trong hoàng tộc cũng chỉ được tối đa 10 vạn rai [1 rai = 1.600m2].

Hoàn toàn ngược lại với bức tranh kinh tế của Xiêm, nhà Nguyễn từ khi lên cầm quyền ở Việt Nam đã triệt để thi hành chính sách “trọng nông, ức thương”. Các biện pháp khuyến nông như khai hoang, làm thuỷ lợi đã giúp nền nông nghiệp phục hồi và phát triển nhiều hơn trước. Tổng diện tích đất nông nghiệp đã tăng từ 3 triệu mẫu vào năm 1820 lên 4,2 triệu mẫu năm 1847 [7] . Nhưng nền kinh tế Việt Nam dưới triều Nguyễn chủ yếu vẫn là nền kinh tế tự cung, tự cấp, lạc hậu, kém phát triển một cách trầm trọng. Cả trong nội thương lẫn ngoại thương, nhà Nguyễn thực hiện chủ trương độc quyền một cách chặt chẽ. Việc buôn bán, vận chuyển gạo, muối – hai mặt hàng được coi là cực kỳ quan trọng – do nhà nước độc quyền quản lý. Ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị [8] . Chính sách này trên thực tế đã kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Về ngoại thương, nhà Nguyễn cũng áp đặt chế độ độc quyền, hạn chế buôn bán với nước ngoài, nếu có thì cũng gặp nhiều thủ tục phiền hà, chịu thuế cao và tệ tham nhũng của giới quan lại [9] . Sản xuất tiểu thủ công nghiệp không đóng vai trò đáng kể nào trong nền kinh tế, hầu như không có sự phát triển so với giai đoạn trước.

c. Cơ cấu xã hội

Thái Lan là một xã hội có tính chất mở, không chặt chẽ. Khác với các nước Đông Nam Á khác, gia đình của người Thái không đóng vai trò gắn kết các thành viên để tạo thành những tổ chức rộng lớn hơn, mà hoạt động khá độc lập. Do điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, dễ dàng di chuyển và kiếm sống, nên các gia đình của người Thái không bắt buộc phải tập hợp mưu sinh theo huyết thống hoặc địa lý. Dưới triều đại Chakri, nhà vua là chủ sở hữu, mọi người đều được quyền canh tác, không hình thành quan hệ sở hữu ruộng đất kiểu phong kiến. Mặc dù có các thành phần khác nhau, nhưng sở hữu đất đai không có tính chất tuyệt đối, nên không có quan hệ lệ thuộc về nhân cách giữa địa chủ và tá điền như thường thấy dưới chế độ phong kiến.

Ngược lại hoàn toàn với xã hội Xiêm thế kỷ XIX, Gia Long sau khi lên ngôi năm 1802, đã lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng và mô hình nhà nước Trung hoa làm khuôn mẫu xây dựng xã hội [10] . Các quan niệm Nho giáo trên thực tế đã không tạo ra được sự ổn định và phát triển, mà ngược lại chỉ kìm hãm, làm cho đất nước bất ổn và không có khả năng tập hợp lực lượng, mỗi khi có sự khủng hoảng hoặc đe dọa của nước ngoài [11] . Trong xã hội Nho giáo đó cơ cấu xã hội được hình thành theo thứ bậc nghiêm ngặt, lần lượt từ cao xuống thấp là sĩ, nông, công, thương [12] . Tuy nhiên, khác với Xiêm, đại bộ phận tầng lớp này do chỉ theo học đạo Nho, bị ràng buộc bởi hệ tư tưởng Nho giáo và quan hệ vua tôi, nên lợi ích của họ gắn liền với lợi ích của triều đình và rất bảo thủ. Tầng lớp này, mặc dù có học thức, quyền lực và địa vị kinh tế, nhưng không đóng vai trò động lực thúc đẩy xã hội tiến bộ, phát triển.

Khác biệt hoàn toàn với tầng lớp nông dân tiểu nông ở Xiêm có sự tự do tương đối về địa vị kinh tế và xã hội, những người nông dân Việt Nam vừa bị trói buộc bởi giáo lý Nho giáo hà khắc, vừa bị kiểm soát bởi những phong tục tập quán của những cộng đồng nơi họ cư trú được ghi chép trong các bộ luật của làng (hương ước). Bộ máy hành chính quan liêu chuyên quyền cộng với thiết chế làng xã là nguyên nhân cơ bản làm cho xã hội Việt Nam trở nên lạc hậu và trì trệ.

Nói tóm lại, xét từ góc độ xã hội, Việt Nam thế kỷ XIX dưới thời nhà Nguyễn thể hiện sự bảo thủ và thụ động. Từ tầng lớp quan lại thống trị, đến tầng lớp bị trị, đều bị trói buộc bởi những tư tưởng lỗi thời. Với một nền tảng kinh tế và một hệ tư tưởng như thế, xã hội Việt Nam không thể tạo ra được một lực lượng xã hội đủ mạnh về chính trị và trình độ, có khả năng tập hợp lực lượng, tạo ra sự thay đổi có tính quyết định và cơ bản.

d. Cơ sở văn hoá giáo dục

Đặc điểm nổi bật của nền giáo dục Thái thời kỳ sơ khai là mối quan hệ hữu cơ với văn hoá Thái và với tiến trình lịch sử của vương quốc Xiêm. Do đó, có thể nói rằng cấu trúc và nội dung của nền giáo dục Thái Lan đã phát huy được những yếu tố truyền thống nội tại, trong khi vẫn tiếp thu những thành quả của khoa học và nghệ thuật bên ngoài.

Từ thời Ram Khamkaeng, đạo Phật đã trở thành động lực chủ yếu cho sự phát triển của xã hội: “Các chùa Phật giáo trở thành các trung tâm học thuật và văn hoá và nghệ thuật làm chủ các vấn đề – bhikkhus [Tì kheo] – được giảng dạy cho tất cả mọi người từ thành phố đến nông thôn” [13] .

Sự trị vì của Rama III (1824-1851) là sự tiếp diễn của quá trình xây dựng đã được bắt đầu bởi Rama I. Nhưng cũng là thời điểm người phương Tây có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn ở Thái Lan. Đây là giai đoạn đánh dấu sự nở rộ của văn hoá truyền thống Thái đồng thời biến đổi những yếu tố truyền thống bằng việc tiếp thu các yếu tố phương Tây. Nhà vua Mongkut [Rama IV] đã có những cuộc trao đổi nghiêm túc về các giá trị của các tôn giáo khác với các nhà truyền giáo Tin lành và Cơ đốc giáo. Vua Mongkut nói thông thạo tiếng Anh, không xa lạ với khoa học phương Tây đặc biệt là thiên văn và vật lý. Được các nhà truyền giáo giảng dạy tiếng Anh và tri thức khoa học mới, vua Mongkut đã có một tư thế tự tin, cái nhìn phê phán đối với văn hoá bản địa. Theo ông, đạo Phật không chỉ là truyền thống của một dân tộc mà còn là một tôn giáo có tính phổ cập, có thể cạnh tranh với Cơ đốc giáo.

Với tư tưởng Nho giáo làm nền tảng, hệ thống giáo dục và thi cử dưới triều Nguyễn được xây dựng với mục đích đào tạo đội ngũ quan lại phục vụ cho triều đình. Mẫu người mà nền giáo dục khoa cử Nho giáo đề cao không phải là một chuyên gia mà là một quan lại, có khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của nhà nước, gắn quyền lợi của mình với vương triều và tuyệt đối trung thành với nhà vua. Vì thế, trong hệ thống giáo dục này, nghề chuyên môn không được khuyến khích đề cao. Nội dung giảng dạy chủ yếu là Tứ Thư và Ngũ Kinh, những tác phẩm kinh điển của Nho giáo Trung Quốc. Các kiến thức dạy và học vì thế thường mang tính phi thực tế, sáo mòn, rập khuôn. Sự bất cập của nền giáo dục Việt Nam bộc lộ trong nội dung giảng dạy (chỉ nhấn mạnh đạo lý thánh hiền, không quan tâm tìm hiểu thế giới khách quan, xa rời thực tê), trong mục tiêu giáo dục (đào tạo người phục vụ cho lợi ích thống trị của nhà Nguyễn), trong tài liệu phục vụ cho dạy và học (ít về chủng loại và số lượng), trong những quy chế ngặt nghèo phi lý của việc học và thi (quy định chữ viết, kiêng huý) [14] .

Trong các đề nghị của mình, các nhà canh tân Việt Nam từ Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ đến Đặng Huy Trứ đều chỉ ra sự bất cập, lỗi thời của nền giáo dục Việt Nam dưới thời Nguyễn và đề ra những biện pháp nhằm chấn chỉnh những yếu kém này. Khi bàn về tầm quan trọng của giáo dục, Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh “việc chỉnh đốn học thuật là cái gốc lớn của quốc gia” [15] , Đặng Huy Trứ thì nhấn mạnh tầm quan trọng của các ngành khoa học tự nhiên mà nền giáo dục Việt Nam không bao giờ đề cập đến: “Thiên văn, toán học ta đều chưa biết hết nên sao hiểu được cơ trời để sớm lo toan được cho dân… Trải qua việc mới biết tài học ta nông cạn. Văn chương có bao giờ chống nổi với gió bão” [16] . Mạnh mẽ và quyết liệt hơn, Nguyễn Trường Tộ đã phê phán lối học một đằng làm một nẻo “…lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú, lớn lên ra làm thì lại luật, lịch, binh, hình”, hoặc lối học không thực tế: “… học và dùng những gì mà mắt không trông thấy, chân không đặt đến” [17] .

Nói tóm lại, từ góc độ giáo dục có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa Việt Nam [và Xiêm]: một bên là nền giáo dục Nho giáo khuôn sáo, máy móc, bảo thủ và một bên là nền giáo dục Phật giáo kết hợp với Ấn Độ giáo cởi mở, dân chủ, thiết thực. Điều khác biệt thứ hai là yếu tố kết hợp cải cách giáo dục phải gắn liền với mở cửa, giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài, với chuyên gia nước ngoài và cử người đi học ở nước ngoài. Nếu như Ở Xiêm, quá trình này được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với quy mô và tốc độ ngày càng cao thì ở Việt Nam, điều này diễn ra ở mức độ rất hạn chế, hầu như không đáng kể.

III. Một số nhận xét về trào lưu cải cách ở Xiêm và Việt Nam

a. Về tiến trình và lực lượng cải cách

Để thực hiện cải cách thành công, các ông vua của triều đại Chakri đã chủ động thực hiện một chương trình cải cách từ từ, phù hợp với tình hình nội tại của đất nước và khu vực. Với tư cách là kết quả của một quá trình đổi mới kinh tế và chính trị kéo dài tới năm 1868, đời sống chính trị của Xiêm đã được cải thiện rõ rệt. Việc làm đầu tiên mở màn cho công cuộc cải cách của Chulalongkorn là vào năm 1873, khi ông tuyên bố bãi bỏ tục quỳ lạy vua, một biểu tượng thần phục truyền thống lâu đời. Điều này có ý nghĩa hai mặt: thần phục không có nghĩa là hạ mình và trong thực tế điều này còn chứng tỏ Xiêm đã cởi mở hơn trong tiếp thu các hình thức ngoại giao hiện đại của phương Tây.

Việc làm thứ hai của vua Chulalongkorn là thủ tiêu chế độ nô lệ. Đây là quyết định quan trọng và có tác động mạnh mẽ đến toàn xã hội và vì vậy gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ nhất. Về vấn đề này, vua Chulalongkorn có quan điểm đề ra lộ trình thích hợp cho việc xoá bỏ chế độ dã man này, nhưng không thể thay đổi tất cả trong một đêm, bởi vì điều đó sẽ đem lại tình trạng nguy hiểm cho nô lệ[18] .

Một trong những thay đổi quan trọng nhất diễn ra cùng với sự cải cách là việc mở rộng sự kiểm soát của chính quyền trung ương đối với các tỉnh và các vùng xa trung tâm. Dựa theo mẫu hình Anh ở Ấn Độ và Miến Điện, Xiêm đã nhóm các tỉnh thành các monthon(giới/hạt) dưới sự kiểm soát của các uỷ viên hội đồng. Phần lớn những người này là anh em của nhà vua. Các chức vụ này đã được đặt ở Luang Phrabang, Chieng Mai, Phuket và Battambang vào những năm 1879. Sau đó, chức vụ này được mở rộng thêm ở Nong Khai, Champassak, Nakhon Ratchasima (Khorat) và Ubon và những năm 1880.

Nói tóm lại, cải cách ở Xiêm thế kỷ XIX là một quá trình được các ông vua từ Rama I đến Rama V thực hiện một cách chủ động, dần dần từng bước, có tính toán và có sự chuẩn bị cẩn thận. Trong quá trình đó, nhà nước đóng một vai trò quan trọng.

Nếu so sánh với công cuộc cải cách ở Xiêm, chúng ta thấy sự khác biệt căn bản giữa hai nước nằm ở chính bản thân những người đứng đầu đất nước mà cụ thể là các nhà vua của triều Chakri ở Xiêm và triều Nguyễn ở Việt Nam. Nếu các ông vua từ Rama I đến Rama V của Xiêm thực sự là những người khởi xướng công cuộc cải cách, có nhận thức đúng đắn về tình hình khu vực và quốc tế, luôn chủ động và có kế hoạch rõ ràng cho những chủ trương cải cách, thì các ông vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng lại thể hiện sự bảo thủ, trì trệ, lúng túng, bị động, thiếu nhận thức đầy đủ về thời thế và không quyết tâm thực hiện cải cách đến cùng.

Xét từ yếu tố con người trong so sánh với Xiêm, có thể thấy tư tưởng cải cách ở Việt Nam chỉ do một số rất ít, một nhóm các quan lại, chí sĩ, do có tiếp xúc với thế giới bên ngoài, do có nhận thức cao hơn những người cùng thời khởi thảo, đề xướng. Những đề nghị đó trên thực tế mới chỉ là những biểu hiện của một xu hướng mới, nên không được những người đứng đầu triều Nguyễn cũng như đông đảo quần chúng chấp nhận và ủng hộ, không tạo thành một phong trào có tính rộng khắp.

Những đại diện tiêu biểu cho xu hướng cải cách ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX bao gồm Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch [19] . Điểm chung nhất trong các nhà cải cách Việt Nam giai đoạn này là họ đều là những người xuất thân trong các gia đình khoa bảng, thừa hưởng nền giáo dục Nho học và thuộc tầng lớp trên của xã hội. Nhờ có trình độ học vấn và đỗ đạt trong các kỳ thi, phần lớn họ vì thế đều nắm giữ một vị trí nhất định trong bộ máy quan lại của triều đình nhà Nguyễn. Ví dụ như Phạm Phú Thứ đỗ tiến sĩ năm 1843 và đã từng giữ chức Thượng thư Bộ Hộ. Bùi Viện từng được cử đi sứ hai lần sang Mỹ với mục đích cầu viện cứu nước nhưng không thành công. Cho dù có vị trí như thế nào trong bộ máy đó, tất cả họ đều thể hiện là những ông quan không ham danh vọng, có tâm huyết với vận mệnh của dân tộc, mong muốn đất nước cường thịnh bằng con đường canh tân đổi mới.

Điểm chung thứ hai của những nhà canh tân Việt Nam giai đoạn này là họ đều là những người trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều, có tiếp xúc với văn minh phương Tây, với thế giới bên ngoài. Mặc dù còn rất nhiều hạn chế, nhưng họ là những người thông qua giao lưu với thế giới bên ngoài, mới có những hiểu biết và có thể so sánh tình hình Việt Nam với khu vực và thế giới, phù hợp với thực tế khách quan.

Phần lớn các nhà cải cách đều bày tỏ sự lo ngại về tình hình đất nước, về thái độ bàng quan, thờ ơ, chậm trễ của triều đình. Theo họ, lẽ ra phải tiến hành ngay các biện pháp canh tân, chấn hưng đất nước, phải đề ra những chủ trương đối nội và đối ngoại phù hợp, chứ không thể chần chừ, chờ đợi lâu hơn nữa [20] . xuất phát từ nhận thức về thời thế, các nhà cải cách Việt Nam thế kỷ XIX đều nhằm vào các mục đích trước mắt và lâu dài cho một chương trình cải cách toàn diện. Mục đích cấp thiết trước mắt theo các nhà cải cách là tạo ra thế cân bằng cho đất nước đủ sức chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, cứu dân tộc khỏi ách nô dịch. Không chỉ hạn chế bởi những mục đích ngắn hạn, trước mắt nhằm chống lại sự xâm lược của Pháp, các nhà cải cách còn nhìn nhận và đề ra mục đích lâu dài mà các kế hoạch này phải đạt được. Đó là đưa đất nước phát triển toàn diện về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá và giáo dục, nhằm tiến kịp, thậm chí vượt các quốc gia trong khu vực và thế giới, bởi vì theo Đặng Huy Trứ “trong thiên hạ, không có cái nhục nào bằng cái nhục không được như người” [21] .

Trước mắt, các nhà cải cách đều thống nhất kế hoạch thực hiện một loạt các biện pháp tức thời mà trọng tâm là cải cách quân đội như học tập binh thư kết hợp với sử dụng, chế tạo vũ khí, tăng cường kỷ luật quân ngũ, có chế độ ưu đãi thích đáng cho quân đội, xây dựng lực lượng dân binh hùng hậu… Về lâu dài, theo các nhà canh tân, triều đình phải thực hiện công cuộc cải cách sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, ngoại giao, xã hội, văn hoá và giáo dục nhằm đưa đất nước phát triển hơn các nước đương thời. Mô hình mà Việt Nam phải hướng tới và xây dựng cho được theo Nguyễn Trường Tộ chính là nước Mỹ [22] .

Nói tóm lại, ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX mới chỉ xuất hiện một xu hướng cải cách trong một số rất ít người thuộc tầng lớp nho sĩ và quan lại, chứ chưa tạo ra thành một phong trào hay làn sóng cải cách sâu rộng trong xã hội. Khác với ở Xiêm, trào lưu cải cách ở Việt Nam không được triều Nguyễn ủng hộ, thậm chí có sự mâu thuẫn trong tư tưởng của nhà cải cách. Ngoài ra, một đặc điểm căn bản khác của tư tưởng cải cách ở Việt Nam là các đề nghị cải cách thiên về ảnh hưởng bên ngoài, thiếu cơ sở vật chất để tiếp nhận từ bên trong, không đề cập tới quyền lợi của nông dân và còn mang nặng tư tưởng phong kiến [23] .

b. Về phản ứng với thế lực bên ngoài

Khi nghiên cứu về quan hệ quốc tế của Thái Lan, một nhà nghiên cứu Nhật Bản đi đến kết luận: Ngoại giao Thái Lan lặp đi lặp lại một mô thức: quan hệ quốc tế xung quanh Thái Lan căng thẳng – Thái Lan giữ thái độ trung lập để chọn bên đứng về phía chiếm ưu thế để kiếm lợi lớn nhất với sự hy sinh nhỏ nhất [24] . Mô hình ngoại giao này được các nhà nghiên cứu quốc tế gọi là ngoại giao lựa chọn. Đối với Thái Lan, sự lựa chọn xảy ra khi quan hệ quốc tế căng thẳng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích và đồng thời tồn tại nhiều lực lượng thù địch với nước này. Trong trường hợp đó, Thái Lan thường bắt tay với cả hai phía đối địch, rồi xem xét tương quan lực lượng của hai bên, chọn phía có lợi cho nước mình để hợp tác. Cũng có khi Thái Lan bắt tay với một phía trong các bên thù địch nhau, rồi lại nhích lại gần với bên kia để kiềm chế bên mà mình đang bắt tay để kiếm lợi cho nước mình. Mục đích của sự lựa chọn này là kiếm lợi lớn nhất với sự hy sinh nhỏ nhất. Ngoại giao Thái Lan vì thế là ngoại giao thực dụng và mềm dẻo.

Tình hình nửa cuối thế kỷ XIX đã đặt vương quốc Xiêm trước những thách thức mới. Trước sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, khu vực Đông Nam Á trở thành nơi diễn ra cuộc chiến tranh giành thuộc địa của hai nước Anh và Pháp. Vào khoảng năm 1800, Anh đã hoàn toàn chiếm được khu vực xung quanh Penang trên bán đảo Mã Lai. Đến năm 1886, Anh chiếm được toàn bộ Miến Điện. Như vậy, Anh đã tiến sát đến vùng biên giới phía nam và phía tây Thái Lan. Mặt khác, năm 1859, Pháp chiếm được Nam Việt Nam, biến vùng này thành thuộc địa. Đến năm 1863, Pháp đã chiếm được Campuchia, biến nước này thành đất bảo hộ. Công cuộc chinh phạt của Pháp ở Đông Dương đã hoàn thành vào năm 1885. Như vậy, chủ quyền của Thái Lan ở biên giới phía đông bị đe dọa nghiêm trọng.

Từ năm 1851, khi sự đe dọa của hai cường quốc đó bắt đầu tăng lên, thì Mongkut (1851-1868) lên ngôi vua. Mongkut tin rằng nếu không hợp tác với các nước Tây Âu thì Thái Lan sẽ bị chinh phục. Niềm tin của Mongkut được khẳng định bởi việc Trung Quốc bị thất bại trong cuộc chiến tranh thuốc phiện năm 1842. Ông cho rằng một nước mà Thái Lan đã kính phục trong nhiều thế kỷ về sức mạnh và uy tín như Trung Quốc đã không đương đầu nổi trước sức ép của Tây Âu thì Thái Lan cũng không thể duy trì được nền độc lập của mình. Vì thế, năm 1855, vua Mongkut đã quyết định ký hiệp ước thông thương hữu nghị Thái-Anh với thống đốc Hongkong lúc đó là Huân tước [Sir John] Bowring. Hiệp ước này đã đi vào lịch sử quan hệ ngoại thương của Xiêm với tên gọi là Hiệp ước Bowring. Theo quy định của những điều khoản ký kết, Xiêm chấp nhận quyền lãnh sự tài phán, thủ tiêu sự độc quyền của cả hoàng gia và tư nhân về hàng hoá, thương mại và quá cảnh và thiết lập một mức thuế “dũng cảm” là 3% đối với hàng nhập khẩu và 5% với hàng xuất khẩu[25] . Ngay cả thuế đất đối với các chủ người Anh cũng được định với giá thấp, ngăn không cho chính quyền nâng giá đất đối với chính người dân Thái. Sự cấm đoán xuất khẩu gạo trước đây cũng bị xoá bỏ. Chính phủ chỉ giữ lại những quy định cũ đối với những tô giới liên quan đến xuất nhập khẩu ma tuý là độc quyền của nhà nước.

Hiệp ước này đã mở đường cho Thái Lan ký các hiệp ước thông thương khác với một loạt cường quốc sau đó, cho nên nó được coi là mốc khởi đầu cho quá trình mở cửa của Thái Lan. Tuy nhiên, đây là hiệp ước bất bình đẳng thừa nhận đặc quyền kinh tế và quyền lãnh sự tài phán của người Anh, cho nên nguy cơ Thái Lan trở thành thuộc địa của Anh luôn rình rập nước này.

Sau khi ký hiệp ước với Anh, Thái Lan lại quay sang thân thiện với Pháp, là lực lượng thù địch của Anh để kiềm chế sức ép về chính trị và kinh tế ngày càng tăng của Anh. Do buộc được hai thế lực này phải đối phó với nhau, Thái Lan không trở thành thuộc địa và có thể duy trì được độc lập. Như vậy là đồng thời với việc mở cửa, ngoại giao lựa chọn của Thái Lan đã thu được kết quả lớn. Sự độc lập của Xiêm trong giai đoạn này chủ yếu nhờ vào sự thù địch, cạnh tranh của Anh và Pháp. Bên nào cũng lo ngại sự xâm lược của bên kia hoặc là sự vượt trội của đối phương. Bangkok đã biết tận dụng tình thế này và tạo ra điểm tựa cho sự cân bằng quyền lực. Điều chủ yếu mà Anh và Pháp có thể thống nhất được là đảm bảo sự độc lập của đồng bằng sông Chao Phraya năm 1896.

Điều đó có nghĩa là Xiêm khó có thể kiểm soát được bán đảo Mã Lai, các tỉnh đông nam giáp ranh với Campuchia và toàn bộ vùng đông bắc Thái Lan hiện nay. Bangkok đã có thể giữ được phần lớn lãnh thổ này chỉ vì kết hợp được các yếu tố may mắn, hiện đại hoá. đúng lúc và khả năng ngoại giao tài tình.

Trước mối đe dọa về chủ quyền từ hai cường quốc phương Tây vào những năm cuối của thế kỷ XIX, Xiêm đã buộc phải ký hoà ước năm 1907 đồng ý cắt một số vùng lãnh thổ ở Lào và Campuchia và một khoản tiền lớn cho Pháp. Cái giá phải trả cho Anh cũng đắt tương tự, khi Xiêm buộc phải trả lại 4 tỉnh Kedah, Perlis, Kelantan và Trengganu cho Anh. Những hiệp ước này đã phần nào làm giảm áp lực của các cường quốc đối với chủ quyền của Xiêm và đảm bảo sự an toàn biên giới lãnh thổ của một quốc gia được quốc tế thừa nhận.

Thái độ của Việt Nam đối với phương Tây ngược lại hoàn toàn những gì đã xảy ra ở Xiêm. Ngay từ năm 1847, khi thực dân Pháp lần đầu tiên nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng, đánh chìm năm chiếc tàu của Việt Nam, đã cho thấy thái độ trịch thượng của những kẻ đi xâm lược và những thách thức mới mà Việt Nam phải đương đầu. Âm mưu xâm chiếm Việt Nam của Pháp đã rõ ràng, mặc dù mãi đến năm 1858, Pháp mới chính thức tiến hành cuộc chinh phạt của họ 11 năm là khoảng thời gian không ngắn giữa hai lần tấn công, của thực dân Pháp, nhưng điều ngạc nhiên là triều đình nhà Nguyễn không hề có sự chuẩn bị hoặc những đối sách cụ thể nào nhằm ngăn chặn âm mưu đó. Vì thực dân Pháp nhận thấy sự lúng túng, lo ngại, yếu kém, mâu thuẫn trong nội bộ triều đình, nên đã quyết định hành động một cách mạnh mẽ và dứt khoát hơn. Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, mà không có sự phản ứng đáng kể nào từ phía triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp đã dần dần mở rộng sự chinh phạt ra các khu vực lân cận, xung quanh. Đứng trước nguy cơ mất nước và hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền của thực dân Pháp, ngay từ đầu, vua Gia Long [?] đã cảnh giác hơn trong quan hệ với Pháp, thực thi chính sách đóng cửa, bế quan toả cảng, hạn chế buôn bán, tiếp xúc với nước ngoài. Hành động này thể hiện năng lực hạn chế của triều đình trong việc phân tích tình hình thế giới và khu vực, khả năng phán đoán và đánh giá kẻ thù cũng như thái độ ứng xử bất cập trong quan hệ quốc tế.

Kế tục sự nghiệp của Gia Long, mặc dù là được coi là ông vua có trí tuệ hơn người, nhưng Minh Mạng vẫn tiếp tục đường lối đối ngoại đóng cửa mà cha ông để lại. Ngoài một số cải cách nhằm củng cố chính quyền phong kiến, Minh Mạng đã không có một sự thay đổi nào trong chính sách đối với phương Tây, mặc dù thời thế đã thay đổi. Không những không sử dụng, ông còn tìm cách vô hiệu hoá những người Pháp đã từng làm việc trong triều dưới thời Gia Long. Trước số lượng tàu buôn nước ngoài kéo đến xin mở cửa thông thương ngày một đông, Minh Mạng đã kiên quyết cự tuyệt chỉ vì sợ họ can thiệp vào công việc của triều đình. Sự kiện Trung Quốc bị thất bại trong chiến tranh Nha phiến với người Anh và các nước phương Tây đã làm cho nhà vua càng thêm lo sợ và xa lánh bọn người “man di” này. Mặc dù vào năm 1840, Minh Mạng có cử một số phái đoàn ra nước ngoài, nhưng đường lối đối ngoại của ông thì không hề thay đổi. Trên thực tế, những phái đoàn này được cử đi không phải nhằm mục đích thiết lập quan hệ ngoại giao, mở rộng giao thương, mà chủ yếu để tìm hiểu khả năng và kế hoạch của người phương Tây mà thôi. Đến thời Thiệu Trị và Tự Đức, chính sách đối ngoại của triều Nguyễn vẫn không hề thay đổi theo hướng cởi mở, mà thậm chí còn có chiều cứng nhắc hơn.

Xuất phát từ quan niệm cho rằng việc đặt quan hệ giao dịch, thương mại chính thức với các nước phương Tây có thể sẽ dẫn đến sự suy đồi về đạo đức, làm xói mòn những giá trị của tư tưởng Nho giáo, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế và quyền lực, sự tồn tại của triều đình, nên các ông vua triều Nguyễn đã bày tỏ thái độ cự tuyệt với xu hướng này. Ngoài ra, những hoạt động trắng trợn của các giáo sĩ thừa sai như xâm nhập bất hợp pháp lãnh thổ, hỗ trợ một số hoạt động chống đối triều đình của một số lực lượng xã hội trong quá trình truyền bá Thiên chúa giáo, nên triều đình nhà Nguyễn càng thận trọng, e dè và cảnh giác trong quan hệ với phương Tây. Thậm chí, vua Tự Đức còn ban hành các chỉ dụ cấm đạo, không cho các giáo sĩ hoạt động, gây ra sự căng thẳng trong quan hệ Việt-Pháp, tạo thành cái cớ để Pháp đẩy nhanh quá trình can thiệp vào Việt Nam.

Nói tóm lại, phản ứng của triều Nguyễn trước sự bành trướng về thương mại và quân sự của Pháp và các nước phương Tây là thụ động, lo sợ, nghi ngờ, thiếu tự tin và bất cập. Thay vì một mặt phải tìm hiểu, tiếp cận, nghiên cứu đối phương, mặt khác phải phát huy sức mạnh của bộ máy, động viên, tập hợp lực lượng, nhà Nguyễn đã tìm cách né tránh, hạn chế giao tiếp, thực hiện chủ trương bế quan toả cảng.

IV. Kết luận

Nói tóm lại, so sánh nguyên nhân thành công của công cuộc cải cách ở Xiêm và nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân đất nước ở Việt Nam thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, chúng ta có thể rút ra một số kết luận sau đây.

Thứ nhất, công cuộc cải cách ở Xiêm và những đề nghị canh tân đất nước ở Việt Nam tuy diễn ra trong cùng một thời kỳ, khi mà chủ nghĩa thực dân phương Tây đang có nhu cầu và âm mưu mở rộng ảnh hưởng, tìm kiếm thị trường phục vụ cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng ở vào những thời điểm khác nhau. Nếu như ở Xiêm, nhà nước trung ương tập quyền đã được xây dựng và củng cố từ giữa thế kỷ XVIII thì quá trình này ở Việt Nam chỉ mới hoàn thành vào đầu thế kỷ XIX.

Thứ hai, những cơ sở chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, giáo dục của vương quốc Xiêm so với Việt Nam vào thế kỷ XIX có nhiều thuận lợi hơn cho việc hình thành, phát triển và thực hiện các chủ trương cải cách. Mặc dù cả Xiêm và Việt Nam đều là chế độ phong kiến trung ương tập quyền, nhưng so với Việt Nam, xã hội Xiêm là một xã hội thông nhất, cởi mở hơn. Tuy nền kinh tế của cả hai nước đều lấy canh tác nông nghiệp làm cơ sở phát triển, nhưng yếu tố hàng hoá, thị trường ở Xiêm phát triển mạnh hơn nhiều so với Việt Nam. Nói tóm lại, ở Xiêm, những tiền đề cho xu hướng cải cách được định hình và phát triển đầy đủ hơn so với ở Việt Nam.

Thứ ba, tầng lớp lãnh đạo tối cao, mà đại diện là các nhà vua Thái Lan và các quan chức cao cấp trong bộ máy hành chính, vừa là những người chủ xướng đưa ra ý tưởng, vừa là những người có quyền lực để thực thi những chủ trương đó. Tầng lớp này được đào tạo, bồi dưỡng một cách chủ động, phát huy được tính kế thừa, tiếp diễn, tạo thành một lực lượng và sức mạnh chủ đạo, vượt trội, có khả năng lãnh đạo cải cách đi đến thắng lợi, trong khi ở Việt Nam, lực lượng cải cách ít về số lượng, kém về chất lượng.

Thứ tư, trong quan hệ quốc tế, tầng lớp lãnh đạo Xiêm có nhận thức đúng đắn về tình hình khu vực và quốc tế, biết tận dụng một cách triệt để thời cơ, biết khai thác mâu thuẫn giữa các đối thủ, biết hy sinh những lợi ích trước mắt, phục vụ cho những mục tiêu lâu dài. Trên cơ sở đó, họ đã đề ra đường lối đối ngoại phù hợp, cởi mở, thực dụng./.

Tác giả, Tiến sĩ Phạm Quang Minh, công tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 6(81)/2006, tr. 29-40.

Hình: Vua Chulalongkorn và gia đình, ăn vận theo thời trang thời kỳ Victoria. Nguồn: Wikipedia.

—————-

[1]Phạm Nguyên Long, Nguyễn Tương Lai (chủ biên), Lịch sử Thái Lan, NXB KHXH, Hà Nội 1998, tr. 173-180, 195-199.

[2]H. Mouhot, Travels in the Central Parts of Indochina (Siam), Cambodia and Laos During the Years 1858, 1859 and 1860, London 1964, tr. 86-89.

[3]J. Bowring, The Kingdom and People of Siam with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Vol.1, London 1857, tr. 67-69.

[4]D. Steinberg, In Search, tr.112.

[5]M. Pallegoix, Description, Vol.1, tr.10.

[6]trong số 400.000 dân Bangkok những năm 1830, chỉ có 120.000 người Xiêm. Số người Hoa chiếm tới 200.000, tức là 1/2 dân số của thành phố. M. Pallegoix, sđd, tr. 60.

[7]Những vấn đề văn hoá xã hội thời Nguyễn, NXB KHXH, Hà Nội 1992, tr.118.

[8]Đại Nam thực lục Chính biên, T.28, NXB KHXH, Hà Nội 1973, tr. 224-225.

[9]Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX, NXB Sử học, Hà Nội 1961, tr. 134-135.

[10]A. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Harvard University Press 1988.

[11]Nguyễn Hồng Phong, Văn hoá chính trị Việt Nam – Truyền thông và hiện đại, NXB VHTT, Hà Nội (?), tr. 135.

[12]Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Ban KHXH Thành uỷ Tp HCM 1990, tr. 210.

[13]Wapola Rahula, History of Buddhism in Ceylon: The Anuradhapura Period, 3rd Century BC-10th Century AC, Colombo 1956, tr. 161, 162-165, 292.

[14]Nguyễn Quốc Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB VHTT, Hà Nội 1994, tr.101-112.

[15]Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ Con người và di cảo, NXB Tp HCM 1988, tr. 277.

[16]Nhóm Trà Lĩnh, Đặng Huy Trứ – Con người và Tác phẩm, NXB Tp HCM, 1990, tr. 271.

[17]Trương Bá Cần, sđd, tr. 249.

[18]Chulalongkorn, The Great, The Centre for East Asian Cultural Studies, Tokyo 1965, tr. 52.

[19]Lê Thị Lan, Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, NXB KHXH, Hà Nội 2002.

[20]Nguyễn Văn Huyền, Nguyễn Lộ Trạch và di thảo, NXB KHXH, Hà Nội 1995, tr. 55.

[21]Nhóm Trà Lĩnh, sđd, tr. 438.

[22]Trương Bá Cần, sđd, tr. 137.

[23]Lê Thị Lan, sđd .

[24]Tanaka Tadaharu, Thái Lan là thế đó, tr. 118.

[25]Rebrikova N.V., Otrerki, tr. 149.

- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2015/09/14/cai-cach-xiem-viet-nam/#sthash.VcUcTsi3.dpuf

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

Ứng đối của chính quyền Siam với thực dân Anh dưới thời vua Mongkut (1851-1868)


15/6/2016

                    
             Trong làn sóng xâm thực mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dân phương Tây ở phương Đông nửa cuối thế kỷ XIX, Siam[1] là chính thể duy nhất ở Đông Nam Á đã thoát khỏi thân phận thuộc địa. Một điểm đáng lưu ý đó là, khi luận giải về sự thành công của Siam trong tiến trình bảo vệ an ninh và độc lập dân tộc, phần lớn các học giả trong nước và quốc tế cho rằng sở dĩ Siam có thể giữ gìn chủ quyền của mình là do vị trí “vùng đệm” của quốc gia này nằm giữa hai thế lực của Anh và Pháp, cũng như tận dụng tốt sự mâu thuẫn, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nước đế quốc trên bán đảo Trung - Ấn.[2] 
           Trên cơ sở khai thác nguồn sử biên niên của Thailand[3], các trước tác của một số nhà ngoại giao và trí thức phương Tây có mặt ở Siam nửa cuối thế kỷ XIX[4], cũng như kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, bài viết này nhìn nhận lại ý thức của nhà vua Mongkut (cq: 1851-1868) về vấn đề chủ quyền, lợi ích quốc gia và những ứng đối khôn ngoan, linh hoạt của chính quyền Siam với thế lực phương Tây, mà tiêu biểu nhất là ứng đối của Siam với thực dân Anh, dưới thời trị vì của ông thay vì quan điểm cho rằng vị trí địa lý là nhân tố chính yếu giúp Siam thoát khỏi thân phận thuộc địa thời kỳ này.
1. Siam trước áp lực bành trướng của các thế lực phương Tây thế kỷ XIX
            Cũng như nhiều quốc gia châu Á, bước sang nửa cuối thế kỷ XIX, Siam chịu áp lực bành trướng ngày càng mạnh mẽ của các thế lực phương Tây. Tuy nhiên, không phải đến tận thế kỷ XIX, vương quốc này mới có những tiếp xúc lần đầu với con người và văn minh phương Tây. Là một chính thể mạnh ở Đông Nam Á lục địa, ngay từ đầu thế kỷ XVI, vương triều Ayutthaya đã dần từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao rộng mở với nhiều thế lực từ bên ngoài. Ngoài các “đối tác” mang tính truyền thống ở phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, thời kỳ này, Siam còn thiết lập các hoạt động đối ngoại với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và Pháp.
Song, mối quan hệ giữa Siam với phương Tây thời kỳ này không chỉ là dòng chảy đơn tuyến với những hoạt động ngoại giao hữu nghị và hòa bình. Sự phức tạp, chồng chéo quyền lực giữa các thực thế chính trị trên bán đảo Trung - Ấn, cũng như sự mâu thuẫn và tranh giành ảnh hưởng giữa các nước phương Tây trong khu vực, khiến Siam luôn phải xây dựng cho mình những đối sách và chiến lược ngoại giao phù hợp. Trong các thế kỷ XVI-XVII, Siam không chỉ phải đối diện với cuộc chiến tranh kéo dài dai dẳng với Burma (Miến Điện), vương quốc này còn phải ứng đối với tham vọng bành trướng ngày càng mạnh mẽ của các thế lực phương Tây. Sau những hành động mang tính “phiêu lưu” của Hà Lan và Anh ở Siam, người Thái sớm ý thức với những đe dọa về an ninh và chủ quyền dân tộc và họ cũng sớm xây cho mình chiến lược “cân bằng quyền lực” với các thực thể phương Tây. Thực tế cho thấy, sau những hành động “lũng đoạn” của Constatine Phaulkon,[5] một nhà phiêu lưu người Hy Lạp trong triều đình Siam trong những năm 80 của thế kỷ XVII, thì đến hơn 1 thế kỷ tiếp theo, ngoại trừ giao thương hạn chế với người Hà Lan tại một địa điểm nhất định và chấp nhận cho một số ít nhà truyền giáo người Pháp tiếp tục hoạt động, thì người Thái đã tuyệt giao và “đóng băng” quan hệ với các thế lực phương Tây.[6]
Tuy nhiên, bước sang thập niên 20 của thế kỷ XIX, một bước ngoặt trong quan hệ giữa Siam với các thế lực phương Tây nói chung và Anh nói riêng đã diễn ra. Sau những nỗ lực “mở cửa” Siam bất thành của sứ đoàn John Crawfurd năm 1821,[7] đến năm 1826, sứ đoàn thứ hai của Anh do thuyền trưởng Henry Burney dẫn đầu đã đàm phán và ký kết thành công Hiệp định Hữu nghị và Thương mại Anh-Siam. Theo Hiệp ước được thỏa thuận thì cả hai phía đã thống nhất được các nội dung liên quan như cách thức giải quyết các tranh chấp nếu có, phối hợp trấn áp tội phạm, phân định phạm vi ảnh hưởng trên bán đảo Malay, và thỏa thuận về tự do thương mại.[8] Hiệp ước này trở thành “khuôn mẫu” để Siam ký kết một thỏa thuận tương tự với phái đoàn của Mỹ do Edmund Roberts dẫn đầu năm 1833.
Mặc dù cả Anh và Mỹ đã “mở cửa” thành công thị trường Siam cũng như được vương quốc này nhượng bộ cho một số quyền lợi, song cũng giống như Mỹ, người Anh không hoàn toàn thỏa mãn với kết quả đàm phán và những điều khoản đã ký kết của Hiệp ước Burney. Nguyên nhân chính yếu xuất phát từ sự độc quyền của Hoàng gia Thái trong một số mặt hàng giao dịch, đặc biệt là buôn bán-xuất khẩu đường, cũng như sự ngăn cấm buôn bán gỗ tếch của chính quyền này đối với người Anh. Mặt khác, người Anh còn vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ phía người Hoa, những người không bị hạn chế bởi bất kỳ điều khoản nào, giống như những mặt hàng mà người Anh bị đánh thuế như quy định trong Hiệp ước năm 1826. Đồng thời, người Hoa còn giành được nhiều ưu đãi từ phía các quan chức chính quyền Siam trong các hoạt động giao thương.[9]
Điều hiển nhiên là, với một thế lực thực dân lớn, luôn có tham vọng thường trực mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Viễn Đông, người Anh rõ ràng sớm không thỏa mãn với những nguồn lợi bị hạn chế ở Siam. Chính vì thế, việc Đại sứ Anh Jame Brooke được cử đến Siam năm 1850 không nằm ngoài mục đích chỉnh sửa các điều khoản của Hiệp ước Burney theo hướng có lợi hơn. Cùng với phái đoàn của Anh, phái đoàn của Mỹ do Ballestier dẫn đầu cũng đến Siam với mục đích tương tự. Song, sau những thất bại cay đắng trong việc cố gắng chỉnh sửa những hiệp ước đã ký kết năm 1826 và năm 1833, điều này khiến “cả Brooke và Ballestier đã đưa ra giải pháp tiêu cực cho chính phủ của mình rằng chỉ có một cuộc huy động quân sự mới hy vọng mở cửa được Siam”.[10] Và điều này cũng có nghĩa là, đến giữa thế kỷ XIX, mong muốn điều chỉnh hiệp ước với Siam của hai phía Anh và Mỹ đã lên đến đỉnh điểm. 
Đứng trước áp lực bành trướng ngày càng gia tăng của các thế lực thực dân phương Tây, đứng đầu là thực dân Anh, với tư cách là người kế vị và đứng đầu đất nước năm 1851, nhà vua Mongkut buộc phải đưa ra những lựa chọn và quyết sách cho dân tộc mình, những quyết sách có thể ảnh hưởng và tác động sâu đậm đến sự tồn vong và đường hướng phát triển của Siam trong tương lai. Thực tế cho thấy, là một trí thức Phật giáo có 27 năm tu hành và thấm đẫm tư tưởng và triết lý của đạo Phật cũng như kế thừa truyền thống ngoại giao và cách thức ứng đối linh hoạt của Siam với các thế lực phương Tây trong suốt hai thế kỷ trước đó; đồng thời, do sớm có điều kiện tiếp xúc và học tập văn minh phương Tây, cho nên điều dễ hiểu là, nhà vua Mongkut sớm có nhãn quan chính trịnh sắc bén, có tầm nhìn, và tư duy trội vượt so với giới chính khách Siam thời kỳ này.[11] Từ bài học của các quốc gia láng giếng mà đặc biệt là sự thất bại của Trung Quốc trước sự công phá của các thế lực thực dân phương Tây trong chiến tranh nha phiến (1840-1842), nhà vua Mongkut nhận thức rất rõ về sức mạnh và kỹ thuật vượt trội của phương Tây cũng như ý thức rất rõ về nguy cơ xâm lược. Chính vì thế, trên cương vị là người đứng đầu đất nước, ngay từ khi mới lên ngôi, nhà vua Mongkut đã đưa ra phương thức ứng đối và kế sách phù hợp cho vương triều mình, đó là đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt cùng với công cuộc cận đại hóa đất nước, đây được coi là hai nhân tố thiết yếu để bảo vệ thành công nền độc lập của Siam. 
Ý thức về chủ quyền, lợi ích quốc gia, về sự tồn vong của đất nước và phương thức bảo tồn nền độc lập dân tộc cũng như đường lối đối ngoại xuyên suốt trong thời gian mình trị nhậm đã được chính nhà vua Mongkut thể hiện trong bức thư mà ông gửi cho viên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Siam đến Paris năm 1867: “Tình thế của chúng ta hiện nay đang bị bao bây bởi 2 hay 3 phía bởi các thế lực hùng mạnh, vậy một đất nước nhỏ bé như chúng ta có thể làm được gì? Giả sử như chúng ta tìm thấy một mỏ vàng và nó cho phép chúng ta khai thác được cả hàng triệu catties,[12] nó đủ để chúng ta mua được hàng trăm tàu chiến thì điều này cũng không thể khiến chúng ta có thể đương đầu với họ, vì thực tế là chúng ta vẫn phải mua tàu chiến và các trang bị vũ khí từ họ. Chúng ta không chế tạo được những thứ này, cho nên nếu chúng ta đủ tiền mua chúng thì các quốc gia này có thể dừng bán bất cứ khi nào khi mà họ cảm thấy những thứ mà chúng ta đang trang bị vượt quá khả năng kiểm soát. Nếu chỉ thuần túy có vũ khí thì cũng không thật sự hữu ích cho chúng ta, mà sự khôn ngoan và hữu ích nhất để bảo vệ chúng ta trong tương lai chính là “cái miệng” và trái tim của chúng ta.”[13] Như vậy, từ việc nhận thức rõ về vị thế hiểm nguy của dân tộc trước áp lực bành trướng mạnh mẽ của các thế lực phương Tây, trên thực tế, nhà vua Mongkut và các triều thần cấp tiến của mình đã lựa chọn và xây dựng đối sách phù hợp cho quốc gia của mình, đó là chính sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt gắn liền với quá trình Âu hóa và tự cường đất nước. Nổi bật trong đó là ứng đối của Siam với thực dân Anh, thực dân Pháp và một số nước phương Tây khác.
2. Ứng đối của Siam với Anh
Trong ứng đối của chính quyền Mongkut với các thế lực thực dân phương Tây thì mối quan hệ Anh và Siam được xem là mối quan hệ then chốt nhất và là trọng tâm trong đường lối đối ngoại của Siam thời kỳ này. Điều dễ dàng nhận thấy rằng, dưới áp lực bành trướng ngày càng mạnh mẽ của các thế lực phương Tây, mà Anh được xem là đế chế hùng mạnh nhất, thì “có thể sẽ không quá lời nếu nói rằng Siam phải chịu ơn Mongkut hơn bất kỳ ai khác về việc nước này đã duy trì được nền độc lập của mình trong khi vào cuối thế kỷ XIX, tất cả các khu vực khác của Đông Nam Á đều bị đặt dưới sự cai trị của châu Âu. Bởi vì ông hầu như là người Siam duy nhất nhận thấy rõ rằng, nếu Trung Quốc thất bại trong chính sách đóng cửa của mình trước áp lực của châu Âu thì Siam phải thỏa hiệp với các lực lượng bên ngoài đang đe dọa mình và bắt đầu thích nghi với thế giới mới, trong đó chủ nghĩa truyền thống Á châu đã tỏ ra lỗi thời và không hiệu quả.”[14]
Nhìn lại ứng đối của Siam với Anh thời kỳ này thì Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại Anh – Siam năm 1855 hay còn được gọi là Hiệp ước John Bowring được xem là dấu mốc bước ngoặt và là khởi đầu mới cho chính sách “mở cửa” của Siam với các quốc gia phương Tây. Xung quan hiệp ước John Bowring, cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến đánh giá trái chiều trong cách nhìn nhận và luận giải của các học giả trong nước và quốc tế.[15] Theo quan điểm của chúng tôi, nếu như đường lối đối ngoại của Siam với Anh được xem là nhân tố trọng tâm trong thế ứng đối của quốc gia này đối với các thế lực phương Tây, thì Hiệp ước John Bowring cũng được xem là mấu chốt quyết định chiều hướng quan hệ ngoại giao hai nước trong suốt nửa cuối thế kỷ XIX. Chính vì thế, khi đánh giá về những tác động khác nhau của Hiệp ước đối với hai phía, chúng ta nên tiếp cận vấn đề dưới nhiều góc độ, cũng như xem xét kỹ càng bối cảnh lịch sử, diễn trình đàm phán, quan điểm và mục tiêu của cả Anh và Siam, thay vì chỉ thuần túy phân tích các điều khoản và nội dung của bản Hiệp ước.
            Nếu như nhìn nhận lại toàn bộ diễn trình đàm phán và ký kết hiệp ước, chúng ta thấy rằng mục tiêu tối thượng của ngài John Bowring đến Bangkok năm 1855 đó chính là hướng đến việc “khai mở” những rào cản về thương mại. Điều này phần nào được ông phản ánh trong tập hồi ký của mình: “Vấn đề khó khăn lớn nhất dễ dàng có thể nhìn thấy được là việc phải giải quyết vấn đề độc quyền từ phía Siam, điều mà đã gây cản trở lớn đối với giao thương, và cần phải phá bỏ các rào cản này để việc buôn bán hàng hóa không gặp bất kì trắc trở gì.”[16]
            Thực tế lịch sử cho thấy, ngài John Bowring đã gặp rất nhiều khó khăn khi tiến hành nhiệm vụ đàm phán hiệp ước “mở cửa” thương mại ở Siam. Hiệp ước Thương mại và Hữu nghị giữa Anh và Siam được ký kết ngày 18/4/1855 không đơn thuần được tiếp nhận và dễ dàng đi đến thỏa thuận giữa hai phía, mà nó đã trải qua quá trình đàm phán rất phức tạp và kéo dài. Dù cho, mối quan quan hệ cá nhân giữa nhà vua Mongkut và ngài Đại sứ Anh John Bowring là hết sức tốt đẹp và thân thiện. Nguồn tài liệu sử biên niên của vương triều Chakkri dưới thời vua Mongkut cho biết rằng, trước khi đến Siam vào tháng 3 năm 1855, John Bowring đã viết cho nhà vua Mongkut một bức thư bày tỏ thiện chí của mình. Bức thư có nội dung khái lược như sau: Nhận nhiệm vụ quốc vương của mình, ngài Bowring được cử đến Siam để đàm phán hiệp ước hữu nghị liên quan đến vấn đề thương mại cũng như một số vấn đề khác. John Bowring sẽ thông báo với phía Siam là sẽ có bao nhiêu thuyền và bao nhiêu người được mang theo cùng với ông ta. Bức thư cũng cho biết rằng, hiện tại có một lượng lớn thuyền chiến của Anh đang có mặt ở vùng biển Trung Hoa, nhưng Bowring sẽ đến Siam với một thái độ thân thiện chỉ với một lượng nhỏ tàu thuyền. Bức thư cũng viết rằng, nếu được chào đón một cách hòa bình và hữu hảo, John Bowring sẽ ứng xử với Siam như một quốc gia lớn và trong thâm tâm, ông hoàn toàn không muốn phải thực thi các biện pháp bằng vũ lực.[17]
Đáp lại thiện chí của Bowring, hơn một lần, trong các trước tác của mình, nhà vua Mongkut của Siam đã bày tỏ thái độ mềm mỏng và trọng thị của mình với ông, như trong một bức thư vào đầu năm 1855: “Bạn thân mến! Tôi đã thông báo với tất cả triều thần của tôi về chuyến viếng thăm của ngài. Họ rất lấy làm vinh hạnh và tin tưởng về chuyến viếng thăm hòa bình và hữu nghị của ngài. Vì ngài là một người bạn thân tình của tôi nên họ đang chờ đợi những thương thảo thuận lợi trong việc ký kết hiệp ước.”[18] Hay như trong một bức thư khác: “Người bạn thân mến của tôi, hôm nay tôi hết sức vui mừng được tin ngài đã tới đây. Hãy cho phép tôi được kính chào ngài theo cách của người Siam. Nhà ở của ngài tại đây đã được chuẩn bị. Chúng tôi đã chuẩn bị đón tiếp ngài từ rất lâu rồi.”[19]
Và các nguồn tài liệu từ hai phái Anh cũng như Siam cho biết rằng, chiếc tàu Rattler và Grecian chở phái đoàn đàm phán của Anh, đứng đầu là ngài Đại sức Đặc mệnh toàn quyền John Bowring, đến hàng rào chắn an ninh tại tiền đồn Paknam ở cửa sông Chao Phraya vào ngày 24/3/1855, như chính sử của Siam cho biết: “Vào Chủ nhật, ngày 7 tháng 3 (theo lịch Siam hay Phật lịch, tức ngày 24/3 – NTD chú), ba người Anh là ngài Đại sứ John Bowring, ông Harry Parkes sứ giả thứ hai và John C. Bowring sứ giả thứ ba[20] đã đến trên hai chiếc tàu là Rattler và Grecian. Hai chiếc tàu này đã đến cửa sông Chao Phraya và neo đậu ở bên ngoài rào chắn kiểm soát… Sau đó, John Bowring, Harry Parkes, John C. Bowring và 24 quý tộc Anh khác ngược thuyền lên đến Bangkok và họ trú ngụ tại khu cư trứ dành cho sứ đoàn ngoại quốc nằm phía trước ngôi đền Prajuurawon”.[21]
Song trải qua một khoảng thời gian chờ đợi khá dài, phải đến ngày 9/4/1855, tức hơn nửa tháng sau, cuộc đàm phán chính thức giữa hai bên mới được tiến hành. Đứng đầu phái đoàn đàm phán của Anh là ngài John Bowring, Harry Parkes và John C. Bowing. Trong khi đó, về phía Siam, nhà vua Mongkut đã “phê duyệt một hội đồng đàm phán của hoàng gia, hội đồng này gồm có: người em trai của nhà vua (tức Hoàng thân Krom Luang Wongsa – NTD chú), Somdet già[22] (tức Somdet Ong Yai, cha của Kralahom và Phraklang – NTD chú), Somdet trẻ (tức Somdet Ong Noi, chú của Kralahom và Phraklang – NTD chú), Kralaham (Bộ trưởng Bộ Chiến tranh – NTD chú)[23] và Phraklang (Bộ trưởng Bộ Tài chính – NTD chú),[24] tổng cộng là 5 người. Do Bộ trưởng Bộ Nội vụ già yếu và không thể đi lại nên không được phê duyệt là thành viên của hội đồng đàm phán”.[25]
            Điều đáng lưu ý trong suốt quá trình đàm phán giữa Anh và Siam đó là, sự khó khăn và phức tạp không chỉ vì những khác biệt về quan điểm giữa hai phía, mà ngay trong nội bộ giới quý tộc và quan lại Siam cũng đã có sự “va chạm” về quan điểm, cách thức nhìn nhận vấn đề. Điều này cũng có nghĩa là, đứng trước những khó khăn và thách thức mang tầm thời đại, thì trong nội bộ giới “tinh hoa” Siam đã có cách nhìn nhận và nhận thức khác biệt về quyền lợi, lợi ích của dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích nhóm. Nếu như Kralaham (Bộ trưởng Bộ Chiến tranh) và Phraklang (Bộ trưởng Bộ Tài chính)[26] đương nhiệm được coi là những quan lại cao cấp có tư tưởng cấp tiến trong triều đình Bangkok, thì cha của họ Somdet Ong Yai, vốn là Kralaham và Phraklang của thời kỳ trước, được coi là người bảo thủ, muốn giữ đặc quyền đặc lợi của thể chế cũ. Điều này được bày tỏ khá rõ trong các nguồn tài liệu liên quan: “Mặc dù không còn nắm giữ chức vụ cao cấp và nhiều thế lực nhất trong vương quốc, nhưng Somdet vẫn tuân thủ và áp đặt nhiều nghi lễ cũ, ông ta vẫn giữ sự gắn bó với thể chế cũ hơn là những người con trai có tư tưởng cấp tiến của mình, những người nắm giữ chức vụ quan trọng vốn là của cha mình trong triều đình.”[27] Không những thế, trong suy nghĩ của Somdet thì quyền lực của mình đã bị suy yếu trong kỷ nguyên mới này, và ông đã thật sự lo lắng vì ông được xem là “một trong người bảo vệ cho thời kỳ cũ và là người có nhiều quyền lợi trong hệ thống đặc quyền cũ.”[28] Thực tế cho thấy, trong nhiều thời điểm, cùng với những rào cản khó khăn về phong tục, tập quán và lễ thức giữa Anh và Siam thì chính sự chống đối của phái bảo thủ trong triều đình Bangkok, mà đứng đầu là Somdet Ong Yai và Somdet Ong Noi khiến John Bowring tự cảm thấy không có nhiều niềm tin vào kết quả đàm phán và ông ta nghĩ rằng phái đoàn của mình rời khỏi Siam mà không ký kết được hiệp ước.[29]
Sau một thời gian đàm phán kéo dài liên tục trong 10 ngày (từ ngày mồng 9 đến 18/4/1855), với nhiều nội dung được đem ra bàn thảo và cân nhắc nhiều lần, Hiệp ước chính thức được ký kết vào ngày 18/4/1855, mang tên Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại Anh-Siam, hay còn gọi là Hiệp ước Bowring. Về việc đàm phán và ký kết hiệp ước, nguồn chính sử của Siam cho biết thêm rằng: “Các cuộc hội kiến để đàm phán hiệp ước được tiến hành ở tòa cung điện cũ. Hiệp ước bao gồm 12 điều khoản về mối quan hệ giữa hai quốc gia, 6 điều khoản về các vấn đề dân sự, 3 điều khoản về thuế xuất nhập khẩu, thực hiện tổng cộng 21 điều khoản.[30] Trong ngày ký và đóng dấu vào hiệp ước, 21 phát súng chào mừng được bắn từ Pháo đài Wichajeenprasid. Thuyền Anh cũng bắn 21 loạt đại bác”.[31]
            Không giống như Hiệp ước Burney năm 1826, Hiệp ước John Bowring được xem là hiệp ước bất bình đẳng, với tổng cộng 12 điều khoản. Do dung lượng của chuyên luận có hạn nên chúng tôi không trích dẫn đầy đủ toàn bộ 12 điều khoản của hiệp ước ở đây, và  nội dung tóm lược của hiệp ước có thể được khái quát như sau: “Thứ nhất, công dân Anh ở Siam được hưởng quyền lãnh sự tài phán. Nếu công dân Anh phạm tội ở Siam sẽ được xử theo pháp luật của Anh, chứ không theo luật pháp bản địa; Thứ hai, công dân Anh được quyền tự do buôn bán tại tất cả các cảng thị và được quyền cư trú lâu dài ở Bangkok. Người Anh cũng có quyền mua bán và sở hữu đất đai trong phạm vi khu vực có bán kính bằng 24 giờ đi thuyền tính từ trung tâm Bangkok; Thứ ba, việc đánh thuế trước đây được bãi bỏ, các loại thuế xuất và nhập khẩu giờ đây được ấn định như sau: 1. Thuế nhập khẩu được ấn định 3% cho tất cả các mặt hàng; 2. Thuế xuất khẩu chỉ được đánh một lần, loại thuế này có thể được gọi là thuế nội địa, thuế vận chuyển hay thuế xuất khẩu; Thứ tư, thương nhân Anh được phép mua và bán trực tiếp với mọi cá nhân người Siam nào mà không bị ngăn trở bởi bất kỳ ai; Thứ năm, chính quyền Siam có quyền ngăn cấm việc xuất khẩu muối, gạo và cá bất cứ khi nào mà họ thấy rằng những mặt hàng này có nguy cơ đe dọa đến chính quyền sở tại; Thứ sáu, một điều khoản về tối huệ quốc được đính kèm.”[32]
            Như vậy, có thể thấy rằng, Hiệp ước Bowring là dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong chính sách đối ngoại cũng như thế ứng đối của Siam đối với các quốc gia phương Tây thời kỳ này.[33] Về hệ quả của Hiệp ước Bowring đối với Siam, một câu hỏi được đặt ra là, đây có thật sự là một một hiệp ước hoàn toàn bất bình đẳng, là một sự “nhún nhường” và là thất bại toàn diện của chính quyền Siam, mà đứng đầu là nhà vua Mongkut, trước áp lực bành trướng của các thế lực phương Tây nói chung và thực dân Anh nói riêng? Đây là một câu hỏi lớn và thật khó để đưa ra một câu trả lời cuối cùng và duy nhất đúng. Thực tế lịch sử cho thấy, đã có nhiều khác biệt khi nhìn nhận và đánh giá về hiệp ước Hữu nghị và Thương mại giữa Anh và Siam năm 1855, khác biệt không chỉ từ quan điểm của hai phía Anh (đứng đầu là John Bowring) và Siam thời bấy giờ, mà còn có những khác biệt trong cách luận giải của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế sau này. Theo chúng tôi, để đánh giá thấu triệt về hệ quả của hiệp ước John Bowring cũng như ứng đối của Siam với Anh dưới thời vua Mongkut nên chăng tránh cách nhìn nhận đơn tuyến mà vấn đề cần được tiếp cận dưới nhiều góc độ, điều này có nghĩa là tránh cách nhìn nhận quá tiêu cực về hệ quả của bản hiệp ước đối với Siam cũng như tránh đi cách nhìn nhận tích cực một cách phiến diện, một chiều.
Điều dễ dàng có thể nhận thấy rằng, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì Hiệp ước Anh-Siam năm 1855 là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên, chấm dứt những cố gắng của Siam trong việc ngăn chặn sự xâm nhập và can thiệp của chủ nghĩa tư bản vào thị trường nước này. Xét trên phương diện chính trị, một trong những sự nhượng bộ chính yếu của Siam với Anh chính là chế độ lãnh sự tài phán, đây được xem là một trong những điều khoản bất bình đẳng nhất trong bản Hiệp ước. Theo cam kết của bản Hiệp ước, Siam không có quyền quản lý những công dân của Anh và khi những người này phạm pháp, tòa án của Siam không có quyền xét xử. Trong khi đó, xét trên phương diện kinh tế, Siam đã nhượng bộ cho Anh hơn bất kỳ cường quốc nước ngoài nào sau này. Việc chỉ giới hạn thuế nhập khẩu cho thương nhân Anh ở mức 3%, cho phép nhập thuốc phiện miễn thuế (dù số lượng bị giới hạn trong một khoảng nhất định), hay đánh thuế xuất khẩu chỉ một lần theo danh sách phê chuẩn của bản Công ước ký kết năm 1856, thì rõ ràng hiệp ước đã khống chế khả năng thu nhập, gián tiếp ảnh hưởng đến ngân khố cũng như nguồn lực quốc gia của Siam.[34]
Bằng việc ký kết Hiệp ước Bowring, xét trên phương diện lợi ích chính trị và kinh tế thì rõ ràng Siam phải gánh chịu những thiệt thòi không nhỏ, tuy nhiên, tiếp cận vấn đề dưới góc độ khác có thể thầy rằng, bản hiệp ước mang lại những thành công lớn cho Siam trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc. Là người đứng đầu đất nước, hơn ai hết nhà vua Mongkut ý thức rằng, với tiềm năng kinh tế, quân sự của Siam vào thời bấy giờ chắc chắn không đủ sức chống chọi được với sức mạnh vượt trội, hơn hẳn của thực dân phương Tây. Và thông qua việc ký kết hiệp ước, Siam tránh được thế cuộc đối đầu trực diện với Anh về quân sự và vũ lực. Dù dành cho Siam nhiều mối thiện cảm, nhưng hơn một lần trong hồi ký của mình, John Bowring đã thừa nhận việc không loại trừ biện pháp “tiêu cực” đối với Siam giống như những người tiền nhiệm của mình là Jame Brooke cũng như đại sứ Mỹ Ballestier đề xuất trước đó: “Nếu hiệp ước không được ký kết, tôi sẽ không có lý do gì để trì hoãn, và tôi có thể tuyên bố chắc chắn rằng tôi không thể dành thêm thời gian để thực hiện sứ mạng của mình. Tôi sẽ trở lại Siam sau khi bàn bạc với các cộng sự Pháp và Mỹ cũng như ngài đô đốc hải quân Anh.”[35] Điều này có nghĩa là, nếu như hiệp ước không được ký kết thì John Bowring sẽ rời đi và có thể quay lại cùng với thuyền chiến và lực lượng quân đội đồng minh Pháp và Mỹ. Khi đó, Siam khó có thể né tránh một cuộc đối đầu trực diện về vũ trang, trong tương quan lực lượng thời đó, thật không khó để có thể đoán định được kết quả có thể xảy ra.
Không những vậy, khi xem xét lại chế độ lãnh sự tài phán, điều được coi là bất bình đẳng nhất trên phương diện chính trị mà Siam ký kết với Anh, thì có thể thấy rằng, đây cũng không phải là điều hoàn toàn mới lạ trong quan hệ giữa Siam với các cường quốc châu Âu. Tuy lời lẽ không hoàn toàn trùng khớp, nhưng ngay từ thế kỷ XVII, dưới thời nhà vua Narai, chính quyền Ayutthaya đã dành cho người Hà Lan những sự nhượng bộ tương tự.[36] Do đó, điều có thể khẳng định là, dù còn những băn khoăn trong việc kiểm soát được các viên lãnh sự, những người có quyền hành tuyệt đối trong việc quản lý các nhóm ngoại kiều, nhà vua Mongkut đã lựa chọn và thực thi một chủ trương ngoại giao mang tính truyền thống, có chủ ý, sáng suốt, thức thời, chấp nhận hy sinh quyền lợi trước mắt, chịu thiệt thòi, nhượng bộ để đạt được mục đích tối cao là chủ quyền và độc lập dân tộc.[37]
Trên phương diện kinh tế, dù còn nhiều tranh luận về tác động thực sự của biểu thuế quan mới đối với Siam,[38] song chúng tôi cho rằng những điều khoản của Hiệp ước Anh-Siam xét trên phương diện nào đó đã tạo nên một cuộc cách mạng khá toàn diện trong toàn bộ hệ thống tài chính của chính phủ. Những điều khoản này đã đem lại một sự thay đổi lớn trong hệ thống thuế khóa, chúng góp phần xóa bỏ nhiều loại thuế “độc hại”, điều này sẽ khiến người sản xuất yên tâm lao động, và từ đó sẽ tăng thêm sức sản xuất trong toàn bộ đất nước.[39] Bên cạnh đó, Hiệp ước cũng hủy bỏ một số lớn các đặc quyền và độc quyền lâu năm của các quý tộc có ảnh hưởng nhất và các quan lại cao cấp nhất của Siam.[40] Dù vẫn còn đôi chút băn khoăn về sự “tuyệt đối hóa” tính chất tích cực về kinh tế của bản hiệp ước đối với Siam trong quan điểm của John Bowring như trong các trước tác mà ông đã viết: “Có những mức thuế đặc biệt về việc sản xuất đường, hồ tiêu, thuốc lá, cũng như toàn bộ các mặt hàng thiết yếu khác, về tổng thể, các loại mặt hàng này chịu mức thuế rất nặng; điều này khiến việc thu gom chúng trở nên rất khó khăn, vì các đơn vị sản xuất nông nghiệp có khuynh hướng từ bỏ các hoạt động canh tác. Hiệp ước mới đưa ra quy định rằng các mặt hàng chỉ chịu một loại thuế duy nhất, cho nên đã làm an lòng các những người sản xuất, từ đó đẩy mạnh khuynh hướng sản sản theo hướng công nghiệp”.[41] Song, chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm rằng, về phương diện kinh tế, rõ ràng hiệp ước đã thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại và kéo theo đó là sự kích thích và thúc đẩy các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
            Bên cạnh đó, một điều đáng chú ý trong ứng đối của Siam với Anh dưới thời vua Mongkut đó là, tuy có những sự nhượng bộ về chính trị, kinh tế và dù cũng đã đem ra đấu tranh trên bàn đàm phán nhiều lần với kết cuộc không đưa được vào trong hiệp ước, nhưng vấn đề về biên giới, vấn đề về lãnh quyền quốc gia chưa bao giờ nằm ngoài tiềm thức của nhà vua Mongkut và những triều thần yêu nước của mình.[42] Thực tế cho thấy, dưới thời trị vì của nhà vua Mongkut, dù theo đuổi đường lối ngoại giao mềm dẻo, nhưng khi cần thiết, chính quyền Siam vẫn có những biện pháp cứng rắn và sẵn sàng tiến hành đàm phán để phân định một cách rõ ràng lãnh quyền biên giới giữa đất nước này với các phần lãnh thổ thuộc Anh dọc theo biên giới Burma hay bán đảo Malay vào những năm 60 của thế kỷ XIX.[43]
            Không những vậy, dù dành cho Anh nói chung và cá nhân John Bowring nói riêng sự trọng thị lớn, nhưng Siam luôn có xu hướng tránh lé sự lệ thuộc hoàn toàn. Như trong chuyên khảo rất đáng chú ý của mình, tác giả Abbot Low Moffat đã chỉ ra rằng: Trong thập niên 60 của thế kỷ XIX, John Bowring được Siam tín nhiệm đến mức ông đã đại diện cho Siam tiến hành đàm phán thương mại với Pháp và các quốc gia phương Tây khác. Nhưng chưa bao giờ, nhà vua Mongkut chỉ định Bowring tham gia đàm phán các vấn đề liên quan đến chính trị, chẳng hạn như mối quan hệ với Pháp xung quanh vấn đề Cambodia, vì ông e sợ Siam sẽ trở nên quá phụ thuộc vào Anh.[44] Điều này có nghĩa là, trong ý thức của nhà vua Mongkut chủ quyền quốc gia là giá trị thiêng liêng và vĩnh hằng, là ưu tiên được ông đặt lên trên hết thảy mọi điều.
3. Một số nhận xét
            Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, trước áp lực bành trướng mạnh mẽ của các thế lực phương Tây, đứng đầu là thực dân Anh, khi vừa mới lên ngôi, trên cương vị là người đứng đầu đất nước, nhà vua Mongkut buộc phải đưa ra những quyết sách, lựa chọn khó khăn liên quan đến vận mệnh, sự tồn vong của quốc gia mình. Là một trí thức Phật giáo với 27 năm tu hành khổ hạnh, lại sớm có điều kiện tiếp nhận văn minh phương Tây, có thể nhìn nhận rằng, so với các nhà chính trị ở Siam thời kỳ này, nhà vua Mongkut là người có tư duy và tầm nhìn trội vượt. Đồng thời, trên cơ sở vừa kế thừa truyền thống ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo của dân tộc, một dân tộc vốn có tư duy đầy thực tế, quen thích nghi và hội nhập; kết hợp với tầm nhìn, tư duy sâu rộng của bản thân, nhà vua Mongkut đã lựa chọn và xây dựng cho Siam những đối sách và ứng đối sáng suốt, phù hợp.
            Điều có thể thấy rằng, trong ứng đối của Siam với các thế lực phương Tây dưới thời Mongkut, vương quốc này đã xây dựng được một đối sách đúng đắn cũng như chiến lược phù hợp đối với từng đối tác. Điều có thể dễ dàng nhận thấy rằng, trong quan hệ đối ngoại với các thế lực phương Tây thời kỳ này, giới lãnh đạo Siam đã có cách nhìn phân lập đầy “tỉnh táo” giữa lợi ích chính yếu và lợi thứ yếu, cũng như cách ứng đối đầy linh hoạt với từng thế lực thực dân, sức ép của quốc gia nào lớn lớn thì Siam nhượng bộ lớn, sức ép ít thì Siam nhượng bộ ít, thậm chí có những “nhượng bộ” chỉ tồn tại trên danh nghĩaVà trong số các thế lực phương Tây, Siam chịu áp lực bành trướng sớm và mạnh mẽ nhất từ thực dân Anh. Nổi trội trong ứng đối của chính quyền Mongkut với đế chế này là những nhượng bộ lớn về lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế nhằm tránh nguy cơ đối mặt trực diện về quân sự cũng như là để giữ gìn nền độc lập, chủ quyền của Siam. Hơn bất kỳ thế lực nào khác, Anh là quốc gia nhận được nhiều quyền lợi nhất ở Siam, sự hiện diện đông đảo của đội ngũ các nhà chính trị, đội ngũ chuyên gia, cố vấn, thương nhân và đặc biệt việc người Anh nắm giữ khoảng 90% các hoạt động giao thương xuất nhập-cảnh của Siam đã cho thấy rõ điều đó. Dù dành cho thực dân Anh những sự nhượng bộ lớn, song chưa bao giờ vấn đề chủ quyền nằm ngoài tiềm thức của nhà vua Mongkut và các triều thần yêu nước, có tư tưởng cấp tiến của mình. Thực tế lịch sử cho thấy, khi cần thiết Siam sẵn sàng ngồi vào bàn đàm phán và dùng những biện pháp cứng rắn với thực dân Anh về những vấn đề liên quan đến phân định biên giới và lãnh quyền quốc gia. Rõ ràng, dù phải hy sinh một số lợi ích trước mắt, song về căn bản, Siam đã bảo vệ thành công độc lập và chủ quyền quốc gia. 
            Trong ứng đối của chính quyền Siam với thực dân Anh, nhà vua Mongkut là người giữ vai trò linh hồn và là người hoạch định lên đường hướng chiến lược cho toàn bộ mọi kế sách. Ý thức của Mongkut về chủ quyền và lợi ích quốc gia cũng như sự tồn vong của dân tộc là nhân tố quyết định và chi phối nhất đến phương thức ứng đối của chính quyền Siam với Anh. Trong nhiều trường hợp, Mongkut và các cận thần của mình đã biết hy sinh một số quyền lợi trước mắt, thậm chí là lợi ích kinh tế của dòng tộc, của giai cấp, lợi ích của cá nhân, cũng như dám đương đầu trực diện với tầng lớp quý tộc bảo thủ nhằm hướng tới sứ mệnh thiêng liêng tối cao là bảo tồn chủ quyền và lợi ích quốc gia. Về vai trò quan trọng của nhà vua Mongkut đối với việc bảo vệ độc lập, chủ quyền của Siam, để kết thúc chuyên luận nhỏ này, chúng tôi xin trích dẫn lại một nhận xét về ông của viên sứ giả người Anh Harry Parkes đến Siam năm 1855 và 1856: “Tôi thật là may mắn khi giữ được mối quan hệ hòa hiếu tốt đẹp với nhà vua (the First King, tức Mongkut – NTD chú), ông đã lắng nghe một số lời đề nghị của tôi, điều mà thậm chí ông đã phải đương đầu lại với những vị quan đại thần cao cấp của mình. Ông thật sự là một người khai sáng”.[45]

--
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng (Khoa Văn hóa học)
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3/2016, tr.51-65

Admin 4


[1] Để thống nhất cách dùng từ và thuật ngữ riêng, trong bài viết này, chúng tôi dùng các tên quốc tế thay vì các tên đã phiên âm như Siam thay cho Xiêm hay Thailand thay cho Thái Lan… Đồng thời, thuật ngữ Siam cũng được dùng để chỉ chung cho các triều đại đã từng tồn tại ở Thailand thời trung đại và cận đại như Sukhothai, Ayutthaya, Chakkri…
[2] Về chính sách đối ngoại của Siam với các thế lực thực dân phương Tây nửa cuối thế kỷ XIX nói chung và phân tích về vị trí “vùng đệm” của quốc gia này, xin tham khảo: David Wyatt: Thailand: A Short History, Yale University Press, New Haven, USA, 2003; M. L. Manich Jumsai: History of Anglo – Thai Relations,Published by Chalermnit, Bangkok, Thailand, 1970; Patrick Tuck: The French Wolf and the Siamese Lamb-The French Threat to Siamese Independence 1858-1907, White Lotus Co., Ltd, Bangkok, Thailand, 1995; Walter F. Vella: The Impact of the West on Government in Thailand, University of California Press, Berkeley and Los Angeles, USA, 1955, pp. 317-350; Thongchai Winichakul: Siam Mapped-A History of the Geo-Body of a Nation, University of Haiwaii Press, Honolulu, USA, 1994; Likhit Dhiravegin: Siam and Colonialism (1855-1909)-An Analysis of Diplomatic Relations, Thai Wantana Panich Co., Ltd, Bangkok, Thailand, 1974; Abbob Low Moffat: Mongkut: the King of Siam, Cornell University Press, Ithaca, New York, USA, 1961, pp. 23-95…
[3] Bộ sử biên niên của Siam dưới thời trị vì của Rama IV (tức nhà vua Mongkut, cq: 1851-1868) đã được dịch giả Chadin (Kanjanavanit) Flood kỳ công dịch thuật từ tiếng Thái sang tiếng Anh năm 1964 và được The Centre for East Asian Cultural Studies (Tokyo, Japan) in và ấn hành năm 1965 và 1966. Xin xem cụ thể: The Dynastic Chronicles Bangkok Era: The Fourth Reign (1851-1868),Translated by Chadin (Kanjanavanit) Flood, The Centre for East Asian Cultural Studies, Tokyo, Japan, Vol. 1 (1965) & Vol. 2 (1966). Bản chụp của bộ sử biên niên này, chúng tôi có được từ năm 2011 nhờ sự giúp đỡ của ThS. NCS. Vũ Đức Liêm, khi anh tham dự Chương trình đào tạo Thạc sĩ về Nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Chulalongkorn, Thái Lan. Năm 2013, khi giành được học bổng Empowering Network for International Thai Studies (ENITS) Scholarship của Viện Nghiên cứu Thái (Institute of Thai Studies) thuộc Đại học Chulalongkorn và tham dự hội thảo quốc tế tại Bangkok, nhờ sự giúp đỡ của một số nhà nghiên cứu, học viên cao học, nghiên cứu sinh người Thái, tôi có điều kiện tiếp xúc và khai thác trực tiếp bản in của bộ sử biên niên cũng như một số nguồn tài liệu quý khác về cải cách của Thái Lan tại thư viện của đại học. Qua đây, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đối với những giúp đỡ quý giá đó.
[4] Trong số các trước tác của người phương Tây viết về Siam thời vua Mongkut, chúng tôi cho rằng tập hồi ký của Đại sứ Anh John Bowring đến Siam năm 1855 và tập hồi ký của nữ gia sư người Anh Anna Harriette Leonowens ở triều đình Bangkok 6 năm là những nguồn tư liệu tham khảo rất có giá trị. Nếu như tập du ký của John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Oxford University Press, London, UK, Oxford in Asia Historical Reprints, Two vols, 1969, phản ánh về Siam phong phú, tinh tế trên nhiều phương diện như địa lý, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ, phong tục tập quán, kinh tế, thương mại, văn học, tôn giáo… đặc biệt là về quan hệ thương mại và ngoại giao của Siam với các nước phương Tây; thì cuốn hồi ký của Anna Harriette Leonowens: The English Governess at the Siamese Court: Being Recollections of Six Years in the Royal Palace at Bangkok, Oxford University Press, UK, 1988, lại phản ánh khá phong phú và sinh động đời sống trong cung đình Bangkok.
[5] Constatine Phaulkon có vai trò như là một cố vấn và thậm chí có vai trò như một Bộ trưởng phụ trách công tác đối ngoại của chính quyền Ayutthaya dưới thời vua Narai, và chính ông ta đã hướng nhà vua Narai hướng về phía người Pháp và “âm mưu” đặt Siam nằm dưới sự quản trị của quốc gia này. Đáng tiếc là mưu đồ của Phaulkon chưa kịp thực hiện và chỉ không lâu sau khi nhà vua Narai qua đời, năm 1688, Phaulkon đã bị người thừa kế của vương quốc là Phra Phetraraja sát hại.
[6] Cũng giống như đối sách “tỏa quốc” mà người Nhật đã thực hiện 50 năm trước đó, “mọi nỗ lực của thuyền buôn phương Tây nhằm mở cửa quan hệ thương mại bị các vị vua nối tiếp nhau của chính quyền Ayutthaya xem là mối đe dọa lớn đến chính thể chuyên chế và là một mối nguy hiểm đối với an ninh và chủ quyền quốc gia của Siam”. Xin xem thêm: Frank C. Darling: Thailand and the United States, Public Affairs Press, Washington DC, USA, 1965, p. 12.
[7] Mặc dù thất bại trong việc đàm phán và ký kết Hiệp ước với chính quyền Siam, nhưng John Crawfurd vẫn dành cho đất nước Siam những lời nhận xét đầy trọng thị: “Siam xứng đáng được xem là một trong những quốc gia quan trọng và văn minh nhất ở xứ sở nhiệt đới, khu vực nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc”. Xin xem cụ thể: H. R. H. Prince Chula Charkrabongse: Lords of Life, Taplinger Publishing Co., Inc., New York, USA, 1960, p. 138.
[8] W. A. Graham: Siam, 2 vols, Alexander Morning Ltd, The De La More Press, London, UK, Vol. I, p. 215, dẫn theo Likhit Dhiravegin: Siam and Colonialism (1855-1909)-An Analysis of Diplomatic Relations, Ibid, p. 10.
[9] Trong một ghi chép rất đáng chú ý của mình, W. A. Graham đã viết về tình trạng bất bình đẳng trong cạnh tranh buôn bán giữa thương nhân Anh và thương nhân Hoa kiều như sau: “Toàn bộ những quy định và hạn định về việc đánh thuế với thương nhân Anh thường được các quan chức chính quyền Siam thực thi một cách cứng nhắc, trái lại những quyền lợi tương tự lại thường bị lờ đi. Trong khi đó, thương nhân Hoa không cần có hiệp ước, không bị quy định bởi bất kỳ điều khoản nào và họ đạt được nhiều mối lợi ở Siam thông qua việc mua bán những mặt hàng mà họ muốn bằng một quy trình hết sức đơn giản với chính quyền Siam. Và trong khi người Anh bị hiệp ước giới hạn trong việc đóng tàu thuyền, mua đất hay mua nhà, không được mua bán -  xuất khẩu gạo và không được phép đi lại trong nội đia thì người Hoa dễ dàng thực hiện những điều này mà không vướng phải bắt kỳ ngự ngăn trở nào. Mặt khác, mặc dù chính quyền Siam cam kết không độc quyền, trao cơ hội bình đẳng cho tất cả và không tư lợi cho bất kỳ ai, song họ lại lờ đi những quy định này, với việc cho phép giao dịch thương mại trong hầu hết các điều khoản đối với tầng lớp có thế lực, những người đã nhượng quyền buôn bán cho thương nhân người Hoa. Và chính quyền Siam còn ngăn cản thành công người Anh trong việc thu gom hàng hóa, bằng việc trả những mức giá thấp đến mức gây hại trong việc cạnh tranh giá cả. Về phía Anh, những nỗ lực của Công ty Đông Ấn trong việc chỉnh sửa một phần của bản hiệp ước đã bị thất bại bởi mối lợi ích ràng buộc mà người Hoa thiết lập được với nhà vua của Siam và những quan lại đứng đầu của chính quyền. Về phía Mỹ, nỗ lực chỉnh sửa hiệp ước đã ký kết với Siam của quốc gia này cũng không mang lại nhiều kết quả. Xin xem cụ thể W. A. Graham: Siam, Vol. II, pp. 95-97, dẫn theo Likhit Dhiravegin: Siam and Colonialism (1855-1909)-An Analysis of Diplomatic Relations, Ibid, quotation 22, p. 11.
[10] Likhit Dhiravegin: Siam and Colonialism (1855-1909)-An Analysis of Diplomatic Relations, Ibid, p. 11.
[11] Khi Mongkut mới lên ngôi năm 1851, một tờ báo ở Singapore đã có những nhận định rất đáng chú ý: “Quốc vương mới là một người có tư duy tự do hơn hẳn phần đông dân chúng trong vương quốc của ông ta… Chúng tôi nghĩ rằng chủ quyền hiện nay sẽ được củng cố thêm rất nhiều ở quốc gia này, và sẽ có thêm nhiều tự do đối với người ngoại quốc và các hoạt động thương mại của họ”, H. R. H. Prince Chula Charkrabongse: Lords of Life, Ibid, p. 179.
[12] Catties là đơn vị đo lường khá phổ biến ở Trung Quốc và Đông Nam Á thế kỷ XIX, mỗi catties tương đương với khoảng 500 đến 600 grams (khoảng ½ kg) ngày nay.
[13] Bản dịch bức thư của nhà vua Mongkut gửi đến Phraya Suriyawongse Vayavadhana, Đại sứ Đặc mệnh của Siam đến Paris, ngày 4/3/1867, in trong Pramoj MS, pp. 179-186; quotation p. 186; dẫn theo Abbot Low Moffat: Mongkut, the King of Siam, Cornell University Press, Ithaca, New York, USA, 1961, pp. 24-25.
[14] D. G. E. Hall: Lịch sử Đông Nam Á, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 1997, tr. 692.
[15] Khi đánh giá về hiệp ước Bowring đã có những khác biệt nhất định giữa quan điểm về chính sách đối ngoại cũng như những vấn đề liên quan đến kinh tế của Siam thời kỳ này. Về quan hệ đối ngoại, một điều rất đáng chú ý là, các nhà sử học đồng ý rằng Siam đã dành sự nhượng bộ lớn với người Anh. Thực tế cho thấy, sau khi bản hiệp ước được ký kết năm 1855, một số người Thái đã bày tỏ quan điểm rằng, họ đã dành sự nhượng bộ cho người Anh hơn là những gì mà người Nhật và người Việt đã phải ký kết trong bối cảnh tương tự, xin tham khảo cụ thể: Nicolas Tarling: “Harry Parkes’ s Negotiations in Bangkok in 1856”, Journal of Siam Society, Bangkok, Thailand, Vol. 53, Part. 2, 1965, p. 168. Trong khi đó, trong một chuyên khảo đáng chú ý của mình, B. J. Terwiel đã nhìn nhận lại hiệp ước Bowring năm 1855 và có những luận giải khác biệt về hệ quả của hiệp ước đối với Siam. Trong đó, tác giả đã làm nổi bật ba vấn đề: Thứ nhất, Terwiel khảo sát lại các hệ quả về kinh tế của hiệp ước, tác giả cho rằng thực tế hiệp ước không tác động nhiều đến đời sống kinh tế của Siam; Thứ hai, tác giả chỉ ra rằng, những nhận xét của Bowring không thể xem là tiêu chí đáng tin cậy, có căn cứ để chỉ ra những nghi ngờ về dự đoán của cá nhân các nhà đàm phán người Anh về hệ quả của hiệp ước, do đó quan điểm kinh tế bản địa đã được trình ra; Thứ ba, từ những nghi vấn còn tồn tại, Terwiel đề xuất nên triển khai đánh giá lại hệ quả của hiệp ước đối với kinh tế Siam, xin tham khảo thêm: B. J. Terwiel: “The Bowring Treaty: Imperialism and the Indigenous Perpective”, Journal of Siam Society, Bangkok, Thailand, Vol. 79, Part. 2, 1991, pp. 40-47. Bên cạnh đấy, Trên cơ sở khảo cứu nhiều nguồn tài liệu lưu trữ có giá trị, qua một số chuyên khảo của mình, học giả Nicolas Tarling đã có những biện luận khá xác đáng về những hệ quả nhiều mặt của Hiệp ước Bowing đối với Siam. Ông cho rằng, thông qua hệ thống thuế xuất-nhập khẩu mới, hiệp ước này không chỉ phá vỡ những đặc quyền, đặc lợi của giới quý tộc và quan lại Siam, mà nó còn mở cửa cho việc buôn bán gạo cũng như cho phép người Anh lập Lãnh sự quán và có quyền lãnh sự tài phán ở Siam. Hiệp ước cũng ít đề cập đến quan hệ chính trị của Siam với chính quyền Anh ở Myanmar và các tiểu quốc ở phía  Bắc bán đảo Malay, xin tham khảo thêm: Nicolas Tarling: “British Policy in the Malay Peninsula and Archipelago, 1824-1871”, in Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society”, XXX, Part. 3 (October 1957), pp. 34-36; 39-41, 43.
[16] John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Part. II, Ibid, pp. 258-259.
[17] The Dynastic Chronicles Bangkok Era – The Fourth Reign (1851-1868), Vol. 1, translated by Chadin (Kanjanavanit) Flood, Ibid, p. 120.
[18] S. P. P. M. Mongkut, Letters from the King of Siam, No. 38, is in Bowring’ s The Kingdom and the People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Ibid, Vol. II, p. 422.
[19] A facisimiles of the letter is in Bowring’ s The Kingdom and the People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Ibid, Vol. I, attached to p. I.
[20] John C. Bowring là một người con trai của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của vương quốc Anh John Bowring đến Siam năm 1855.
[21] The Dynastic Chronicles Bangkok Era – The Fourth Reign (1851-1868), Vol. 1, translated by Chadin (Kanjanavanit) Flood, Ibid, p. 127.
[22] Khi khảo sát và tìm hiểu tên và danh xưng của quan lại dưới triều đinh phong kiến Siam, chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, do mỗi quan lại Siam thường có tên đầy đủ dài tới hàng chục chữ, hầu như tên riêng thường mất đi khi ông ta nhận chức đầu tiên, mỗi lần thăng chức ông ta lại thêm một tên mới. Do đó, trong số 5 thành viên của hội đồng đàm phán Siam, chúng tôi mới chỉ xác định đích xác tên đầy đủ của Somdet già là Somdet Chao Phraya Borom Maha Prayurawongse (tức Dit Bunnag); tên đầy đủ của em trai nhà vua là Hoàng thân Krom Luang Wongsa Dhiraj Snid; và tên đầy đủ của Phraklang là Chao Phraya Tipakornwongse (Kham Bunnag – tức con trai của Somdet già). Tên đầy đủ của Somdet trẻ, tức Somdet Ong Noi, hiện chúng tôi chưa xác định được. Còn riêng trường hợp Kralahom (Bộ trưởng Bộ Chiến tranh), chúng tôi cho rằng dưới thời nhà vua Mongkut thì một quan lại cao cấp bậc nhất của triều đình Siam giữ chức vụ này là Chao Phraya Sri Suriyawongse (tức Chuang Bunnag, con trai của Somdet già và cũng là anh trai của Phraklang).
[23] Một số nguồn tài liệu cho biết Kralahom còn là chức danh của Thủ tướng Siam thời vua Mongkut và Chulalongkorn, để thống nhất về danh xưng, trong chuyên luận này, chúng tôi sử dụng nghĩa dịch thuật thống nhất là Bộ trưởng Bộ Chiến tranh.
[24] Theo ghi chép nguyên văn của bộ biên niên sử The Dynastic Chronicles Bangkok Era – The Fourth Reign (1851-1868) thành viên thứ 5 của hội đồng đàm phán là Người phụ trách điều hành của Bộ Xuất nhập Cảng (Habor Ministry), song trong bối cảnh của Siam nửa cuối thế kỷ XIX, theo chúng tôi chức danh này trên thực tế nên được hiểu là Bộ Tài chính.
[25] The Dynastic Chronicles Bangkok Era – The Fourth Reign (1851-1868), Vol. 1, translated by Chadin (Kanjanavanit) Flood, Ibid, p. 128.
[26] Trong cuốn hồi ký The Kingdom and the People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, John Bowring thường xuyên dùng thuật ngữ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Minister of Diplomatic Affairs) cho ngài Phrakalang, danh xưng này đôi khi cũng dùng để chỉ người phụ trách ngân khố hoàng gia, thu thuế, kiểm soát thu chi của các bộ khác, phụ trách nội, ngoại thương, trong thực tế đứng đầu cả ngoại giao của đất nước… để thống nhất danh xưng, theo chúng tôi, danh từ này nên được dịch là Bộ trưởng Bộ Tài chính thì hợp lý hơn.
[27] Trên thực tế thì quyền lực và uy danh của gia đình Bunnag của Somdet đã được kéo dài cho đến cuối thế kỷ XIX, xin xem cụ thể: Prince Chula Chakrabongse, Lords of Life, Alvin Redman, London, UK, 1960, p. 186. Và quyền lực và mối lợi mà gia đình Bunnag có được là do hệ thống độc quyền và chế độ thuế khóa hà khắc. Thực tế cho thấy, hệ thống đánh thuế truyền thống của Siam không chỉ gây nên nỗi bức xúc đối với thuyền buôn Anh, mà nó cũng vấp phải sự phản đối khá gay gắt từ phía quan lại-quý tộc cao cấp của Siam, tiêu biểu là Kralahom – tức ngài Bộ trưởng Bộ Chiến tranh của Siam. Hồi ký của Harry Parkes đã phản ánh rõ điều đó: “Hệ thống đánh thuế thực thi trong đất nước hiện nay đã đè nặng lên người nghèo và những người trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất. Chắc chắn là một loại hàng tiêu dùng được “xướng tên” không chỉ chịu một loại thuế cao mà nó còn chịu nhiều loại thuế khác nhau. Ví dụ về thuế đường, nó được đánh thuế ngay trong quá trình trồng trọt, sau đó cây mía được thu hoạch và mang đem bán ở chợ, đến đây nó chịu thêm loại thuế xuất khẩu nữa… Với hệ thống này, đất nước ngày càng tăng thêm người nghèo, và nó làm mất đi các hoạt động buôn bán vì ít có sản phẩm được làm ra để xuất khẩu. Vậy thì những điều gì là cần kíp hiện nay, đó chính là việc người dân cần được giảm bớt các gánh nặng, nền công nghiệp nên được khuyến khích và có một thị trường hỗ trợ sản xuất. Nhưng vậy thì ai là người có quyền lực đủ để thực thi sự chuyển biến lớn này? Có một vài bộ trưởng đã đề xuất thực thi và họ bất chấp sự phản đối, điều này đã tác động trực tiếp đến một bộ phận đông đảo các quan lại và quý tộc cao cấp, những người chỉ quan tâm đến việc duy trì hệ thống “độc hại” hiện nay… Thưa các quý ngài, nếu lợi ích của người dân Siam luôn thường trực trong trái tim các quý ngài, thì các quý ngài nên sử dụng ảnh hưởng của mình tác động đến nhà vua nhằm đem đến sự thay đổi căn bản và cần thiết này.” Xin xem thêm: The “Parkes” journal, dẫn theo Nicolas Tarling: “The Mission of Sir John Bowring to Siam”, Ibid, pp. 98-99.
[28] John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Part. II,  Ibid, p. 278. Bên cạnh đó, theo nguồn tài liệu lưu trữ chưa được xuất bản của Anh, sự bảo thủ của Somdet Ong Noi đã nhận sự phản đối mạnh mẽ từ phía các quan lại cấp tiến, và “Kralahom đã chỉ trích công khai những biện pháp hám lợi của ông ta, và do đó đã dẫn đến mối bất hòa không thể hàn gắn giữa hai người sau này, xin xem thêm: The Unpublished journal, dẫn theo Nicolas Tarling: “The Mission of Sir John Bowring to Siam”, Ibid, p. 101. Và điều hiển nhiên là, điều này khiến cho quá trình đàm phán hiệp ước Anh-Siam sẽ vấp phải thêm nhiều khó khăn, như chính hoàng thân Krom Luang Wongsa đã nói với Bowring: “Somdet Ong Noi sẽ gây thêm nhiều khó khăn khi mà toàn bộ thu nhập từ nông nghiệp hay các đặc quyền đều nằm dưới sự quản trị của ông ta. Viên đại sứ nếu muốn phá bỏ các rào cản và được phép tự do buôn bán thì cần “nhún nhường” và tuân theo định hướng từ phía Somdet”, John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Part. II,  Ibid, pp. 280-285.
[29] Nicolas Tarling: “The Mission of Sir John Bowring to Siam”, Ibid, p. 101.
[30] Theo nguồn tài liệu cả hai phía Siam và Anh thì Hiệp ước Bowring có tổng cộng 12 điều khoản, trong ghi chép của bộ biên niên sử ở đây lại ghi là 21 điều khoản, có lẽ đây chỉ là lỗi dịch thuật từ tiếng Thái sang tiếng Anh.
[31] The Dynastic Chronicles Bangkok Era – The Fourth Reign (1851-1868), Vol. 1, translated by Chadin (Kanjanavanit) Flood, Ibid, p. 128.
[32] Toàn bộ đầy đủ 12 điều khoản của bản hiệp ước đã được John Bowring công bố trong cuốn hồi ký của mình, xuất bản ở Anh năm 1857, do dung lượng có hạn nên chúng tôi không trích dẫn đầy đủ ở đây. Về toàn bộ nội dung của hiệp ước, xin xem cụ thể: John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Part. II,  Ibid, pp. 214-222.
[33] Nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho Hiệp ước Anh-Siam được ký kết một cách “thuận buồm, xuôi gió” đó là: “Nhiệm vụ của Bowring trở nên dễ dàng hơn vì một lý do đơn giản là nữ hoàng Victoria đã trao toàn quyền cho ông và chữ ký của bà đã có sẵn trong tất cả các bản của ông. Nhưng nhân tố lớn nhất là việc Bowring yêu thích và tôn trọng người Siam nên đã tranh thủ được tình cảm riêng của nhà vua. Và một nhân tố bao trùm là vua Mongkut đặc biệt tha thiết muốn thiết lập quan hệ hữu nghị với nước Anh”, D. G. E. Hall: Lịch sử Đông Nam Á, sđd, tr. 963-964. Trên thực tế, mối thiện cảm của cá nhân John Bowring đối với Siam đã có những ảnh hưởng nhất định đến kết quả đàm phán hiệp định thương mại giữa Anh và Siam: “John Bowring đã bày tỏ thái độ đầy thân thiện của mình với Siam và đưa ra sự đảm bảo chắc chắn trong suốt quá trình đàm phán rằng, ông sẽ đặt lợi ích của Siam tương đương với lợi ích của quốc gia mình. Phía Siam cũng trao trọn niềm tin rằng, ông sẽ là người tiên phong trong việc thiết lập mối quan hệ mới giữa họ với các thế lực phương Tây. Những gì mà được hai phía Anh-Siam thỏa thuận không chỉ làm thỏa mãn đối với hai nước, mà nó còn đáp ứng được những đòi hỏi của các thế lực phương Tây khác sau này.” Xin xem thêm: Nicolas Tarling: “The Mission of Sir John Bowring to Siam”, Ibid, p. 97.
[34] Thực tế lịch sử cho thấy, do chính sách “mở cửa” của chính quyền Siam với Anh dưới thời trị nhậm của nhà vua Mongkut (1851-1868), nên thương mại của Anh ở Đông Nam Á nói chung và Siam nói riêng đã đạt được những thành công lớn. Quan hệ giữa Singapore và Hongkong thuộc Anh với các cảng thị của Siam đã có những phát triển mạnh. Công ty Bombay – Myanmar của Anh chiếm ưu thế trong việc khai thác gỗ tếch tại các khu rừng ở phía Bắc Siam. Phần lớn việc kinh doanh nước ngoài tại Bangkok đều do các công ty Anh nắm và Anh nhanh chóng là nước có vốn đầu tư nhiều nhất ở Siam. Xin xem thêm: D. G. E. Hall: Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr. 965.
[35] John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Part. II,  Ibid, pp. 211-212.
[36] Trong thời kỳ của những công ty đặc quyền lớn ở thế kỷ XVII và XVIII, những quốc vương ở Đông Nam Á muốn rằng mỗi cộng đồng thương nhân nước ngoài kể cả thương nhân Trung Quốc – đều phải đặt dưới sự kiểm soát của một người đứng đầu cộng đồng và các vương quốc có thể trực tiếp giải quyết với những người này về mọi vấn đề có liên quan tới các thương nhân, Xin xem thêm: D. G. E. Hall: Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr. 964-965. (p. 710)
[37] Vũ Dương Ninh (Chủ biên): Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á: Giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2007, tr. 211-212.
[38] Đối với những quan điểm khác nhau về tác động của hệ thống đánh thuế mới đối với Siam, xin tham khảo thêm: David Wyatt: Thailand: A Short History,Ibid, p. 184; D. Elliot: Thailand: Origins of Military Rule, Zed Press, London, UK, 1978, pp. 80-81; Hong Lysa: Thailand in the Nineteenth Century: Evolution of the Economy and Society, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1984, pp. 79-80; B. J. Terwiel: “The Bowring Treaty: Imperialism and the Indingeous Perspective”, Ibid, pp. 40-47…
[39] B. J. Terwiel: “The Bowring Treaty: Imperialism and the Indingeous Perspective”, Ibid, p. 40.
[40] D. G. E. Hall: Lịch sử Đông Nam Á, Sđd, tr. 964.
[41] John Bowring: The Kingdom and People of Siam; with a Narrative of the Mission to that Country in 1855, Part. I,  Ibid, p. 264. Bên cạnh đấy, đánh giá về hệ quả tích cực của bản Hiệp ước, John Bowring còn cho rằng: “Hiệp ước Anh-Siam đã mang đến những lợi ích lớn. Số lượng tàu thuyền tham gia hoạt động ngoại thương đã tăng lên gấp hàng trăm lần, hai bờ của sông Mê Nam (tức sông Chao Phraya – NTD) được chất đầy loại cây chút chit (dock), kèm theo đó là sự gia tăng phồn thịnh và việc tăng thêm tiền lương… Siam là một quốc gia tiến bộ và họ đang gửi ngày một nhiều thế hệ trẻ của mình đi đào tạo ở các trường và trung tâm học thuật tốt nhất ở châu Âu”, xin xem thêm: John Bowring: Autobiographical Recollections, London, UK, 1877, p. 250, dẫn theo Nicolas Tarling: “The Mission of Sir John Bowring to Siam”, Ibid, p. 93.
[42] Đó là việc Siam buộc Anh phải thừa nhận chủ quyền của mình ở phần đất Laos thuộc Chiang Mai cũng như Cambodia; về việc phân định biên giới với Anh ở Peguans và Menam Kra.
[43] Về đàm phán và phân định biên giới giữa Anh và Siam dọc theo biên giới Myanmar và bán đảo Malay, xin xem cụ thể trong The Dynastic Chronicles Bangkok Era – The Fourth Reign (1851-1868), Vol. 2, translated by Chadin (Kanjanavanit) Flood, Ibid, pp. 316-317; 330-334; 359-362.
[44] Về quá trình đàm phán và ký kết hiệp ước giữa Siam với các quốc gia phương Tây khác, xin xem thêm: Abbot Low Moffat: Mongkut, the King of Siam,Ibid, pp. 117-124.
[45] Letter to Mr. W. Lockhart, June 28, 1856, p. 215; dẫn theo Abbot Low Moffat: Mongkut, the King of Siam, Ibid, p. 82.